Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017

KINH DÂNG NƯỚC VIỆT NAM CHO TRÁI TIM MẸ

KINH DÂNG NƯỚC VIỆT NAM CHO TRÁI TIM MẸ

Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con toàn thể giáo hữu Việt Nam hết lòng trông cậy chạy đến cùng Mẹ.
Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, là Mẹ chúng con. Mẹ là Nữ Vương toàn năng, là Đấng Bầu Cử cho chúng con trước tòa Chúa. Biết bao lần Mẹ cứu vãn Giáo hội và các dân tộc trong cơn nguy biến. Chúng con hết lòng thành kính hiến dâng Giáo hội và tổ quốc Việt Nam cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, để thực hành mệnh lệnh của Mẹ và để nhờ Mẹ che chở phù trì ngày nay và mãi mãi!.
Xin Mẹ gìn giữ Giáo hội Việt Nam. Xin Mẹ soi sáng hàng giáo phẩm, dìu dắt và thánh hóa các linh mục. Xin Mẹ giúp sức cho toàn thể giáo dân được trung thành giữ luật Chúa, và sốt sắng làm việc tông đồ. Xin Mẹ nâng đỡ và ủi an những anh chị em của chúng con đang phải khốn khó vì đạo Chúa.
Xin Mẹ chúc lành cho tổ quốc Việt Nam. Xin Mẹ hướng dẫn các nhà lãnh đạo dân tộc. Xin Mẹ đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần tất cả các cơ cấu quốc gia. Xin Mẹ cho toàn thể dân Việt biết đoàn kết để cùng nhau xây dựng lại giang sơn. Nhất là xin Mẹ cứu chúng con thoát nạn duy vật vô thần, để mọi người được sống trong tự do hòa bình, ngõ hầu Nước Chúa được mổ rộng khắp nơi.
Lạy Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con thành khẩn kêu đến Mẹ, vì chúng con biết Mẹ sẽ nhận lời chúng con, và mặc dầu mọi nỗi khó khăn hiện tại, chúng con tin chắc Trái Tim Mẹ sẽ thắng. Amen.



VƯƠNG QUYỀN MẸ MARIA

VƯƠNG QUYỀN MẸ MARIA

Ngày 1 tháng 11 năm 1954, bốn năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Maria hồn xác về trời, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng đội triều thiên lên tượng Đức Trinh Nữ là "sự cứu rỗi của dân Roma". Đây là cử chỉ tượng trưng biểu thị sự công bố về vương quyền phổ quát của Đức Mẹ Maria.
Đoàn người đông đảo đứng chật quảng đường đền thờ thánh Phêrô, nhân danh cả hoàn cầu, dâng cao niềm hoan hỉ.
Đức Thánh Cha cầm những vòng vàng dát đá quí từ khắp thế giới gởi về, để đặt trên đầu tượng Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài nói: "Xin Mẹ cai quản trên Giáo hội, trên mọi trí khôn, mọi cõi lòng, mọi cá nhân, mọi gia đình cũng như mọi xã hội và mọi quốc gia, trên mọi cộng đoàn, những người quyền thế. Xin mẹ hãy cai trị trên mọi nẻo đường và mọi quảng trường, trong thành thị và chốn thôn quê, trên nền trời, cũng như trên mặt đất và cả biển khơi."
Ngài còn nói: "Vương quyền của Đức Maria là một thực tại siêu vượt thế trần, đồng thời lại thấm nhập mọi cõi lòng và chạm tới phần cốt yếu sâu thẳm nhất có tính cách siêu nhiên và bất tử nhất của con người."
Đức Maria là Mẹ thánh, tước hiệu này khiến cho Mẹ được đặc ân không bị thương tổn vì tội lỗi. Vô nhiễm nguyên tội, Mẹ cũng không bị thương tổn vì sự chết. Khi kết thúc cuộc đời trần gian cũng như từ những lời đầu tiên buổi truyền tin, mẹ là tuyệt đỉnh của nhân tính bất khả xâm phạm luôn hiệp nhất với Ngôi Lời để hoàn tất công cuộc cứu rỗi thế gian. Không một ý tưởng, hành vi nào của Mẹ lại rời khỏi con Mẹ trong việc chinh phục bản tính nhân loại và việc chinh phục vũ trụ.
Trong kinh lạy Nữ Vương chúng ta xưng tụng "Thân lạy Nữ Vương, lạy Mẹ từ bi, Mẹ là sự sống, sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con”. Mẹ Maria được xưng tụng như Esther trong Cựu Ước đã cứu dân ra khỏi hoạ diệt vong, Nữ Vương có mọi quyền hành bên Đức Vua và là Đấng bầu cử linh thiêng nhất bên cạnh Đức Vua. Ngày nay, những lời ca tụng Đức Mẹ hướng về vẻ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ và uy quyền của Mẹ bên ngai tòa Chúa Giêsu. Mẹ là hoa quả tuyệt vời của ơn cứu rỗi và là hoa trái tuyệt mỹ của thập giá Chúa Giêsu "Một người nữ mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Mẹ Maria là người Mẹ đầy uy quyền trước mặt Chúa: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" (Ga 2,5).


Thăm mộ cụ Alexander De Rhode, người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam

Thăm mộ cụ Alexander De Rhode, người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam

  

Xin cám ơn người, một vị đại ân nhân của những người con nước Việt. Xin tri ân người với lòng kính yêu sâu sắc: Alexandre de Rohde


 

Câu chuyện về người con đất Việt tìm thăm lại mộ ngài Alexandre de Rohde ở miền đất xa xôi, làm cho người đọc cảm thấy ấm lòng.
Anh Trường là hướng dẫn viên du lịch, đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa nhưng trong lòng vẫn mong ngóng về một điều bấy lâu, đó là được tới tận nơi ngài Alexander De Rhode an nghỉ, đặt lên mộ ngài một bó hoa và nói nên lời cảm tạ từ đáy lòng.
Sài Gòn Buổi Sáng xin phép anh Trường gửi tới bạn đọc câu chuyện về hành trình Thăm mộ cụ ALEXANDRE DE RHODE
“Từ thuở còn sinh viên, khi được học về nguồn gốc chữ quốc ngữ mà chúng ta có được để sử dụng một cách dễ dàng và tiện lợi như ngày nay. Tôi đã thầm cảm ơn những nhà truyền giáo phương Tây, đặc biệt là Alexandre de Rohdes, người đã có đóng góp lớn lao trong việc hoàn thiện hệ thống bảng chữ cái cho người Việt Nam của chúng ta.
Và may mắn thay, trong chuyến đi Iran lần này. Một cơ duyên vô cùng quý báu đã giúp tôi có cơ hội đến viếng thăm ngôi mộ, nơi yên nghỉ của ông trong một nghĩa trang nằm ở ngoại ô của thành phố Esfahan, Iran.
SỰ CHỈ GIÚP CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG
Từ lời gợi ý của một chị bạn, chúng tôi biết được thông tin về ngôi mộ của Alexandre de Rhodes được an táng trong một nghĩa trang công giáo của người Armenia tại Esfahan. Nhưng do thời gian lưu lại nơi đây khá ngắn, vì thế hy vọng được đến viếng thăm ngôi mộ của ông là khá mong manh cho chúng tôi.
Khi nghe chúng tôi nói về ước nguyện của mình, cô Malih- một hướng dẫn viên người Iran vô cùng thông cảm và hết sức tận tình giúp đỡ. Mặc dù với thâm niên hơn 10 năm làm nghề hướng dẫn viên, đã đưa biết bao nhiêu đoàn khách từ khắp năm châu đến thăm Esfahan, nhưng là người Hồi giáo cho nên cô chưa hề biết đến thông tin về khu nghĩa trang người công giáo Armenia nằm ở đâu. Và cô cũng không hề biết đến thông tin nào về Alexandre de Rhodes.
Người đã giúp anh Trường có được tờ giấy phép vào thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes
Sau quá trình tìm kiếm, thông qua một người bạn gái gốc Armenia, cô Mila hỏi thăm được địa chỉ của nghĩa trang. Nhưng vấn đề là không phải ai cũng được vào thăm nghĩa trang. Mà cần phải có sự đồng ý của người quản lý ở nghĩa trang.
Một lần nữa, chúng tôi may mắn gặp được một vị quản lý ở nhà thờ Vank, ông đã nhiệt tình viết cho chúng tôi một tờ giấy phép để xuất trình cho người quản lý ở nghĩa trang.
Cầm tờ giấy trên tay, chúng tôi vội vàng đi về phía ngoại ô thành phố Esfahan. Nơi có nghĩa trang của cộng đồng người Armenia sống tại đây.
NƠI NGƯỜI NẰM XUỐNG
Trước mặt chúng tôi là một nghĩa trang rộng lớn. Những dãy mộ xếp hàng dài nối bên nhau mênh mông. Chúng tôi biết là sẽ không dễ dàng để tìm ra vị trí lăng mộ của ngài. Chúng tôi tìm gặp một cụ già quản mộ ở đây dò hỏi. Cụ nhanh chóng lên xe đưa chúng tôi đến ngôi mộ có tên Alexandre de Rhodes….
Đường vào nghĩa trang nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ
Hôm chúng tôi đến, là ngày đầu năm mới của tết cổ truyền Nowruz của người Ba Tư (Iran), một vài ngôi mộ gần đấy được đặt những chậu hoa. Còn ngôi mộ của ông không có một cành hoa nào, đó chỉ là một nấm mồ nhỏ làm bằng một tảng đá hình chữ nhật nằm khép mình khiêm tốn bên những ngôi mộ khác.
Anh Trường cùng mọi người mua hoa trước khi đến thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes
Một niềm xúc cảm thân thương nghẹn ngào mà tôi không thể tả thành lời đang tuông chảy trong tôi. Đây là nơi an nghỉ của người đã có đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới lớp đất ấy là thi hài của một người phương Tây xa lạ.
Ông đã mất từ gần 4 thế kỉ trước nhưng ông là người đã giúp cho dân tộc Việt Nam có được một bảng chữ cái với các thanh sắc uyển chuyển nhẹ nhàng, nhằm để ghi lại và diễn đạt tiếng mẹ Việt Nam.
Mộ ngài Alexandre de Rhodes
Đặt một chậu hoa tím mua được trong một hiệu bán hoa tết của người Iran lên mộ ông. Chúng tôi không ai nói lời nào. Nhưng giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc. Chấp tay lên ngực, tôi khẻ cúi đầu xin gửi đến người một lời tri ân sâu sắc. 
Nhìn thái độ thành khẩn và tôn kính của chúng tôi dành cho người nằm dưới nấm mộ. Người quản trang hỏi cô Malih: ông ấy là ai mà chúng tôi có vẽ tôn kính thế. 
Và ông đã vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng đây là người đã có công hoàn thiện bản chữ cái cũng như xuất bản những quyển tự điển Việt -Bồ- La tinh đầu tiên cho người Việt Nam từ những năm 1651.
Người con Đất Việt đặt lên mộ ngài bó hoa tươi thắm với tấm lòng thành kính

NGƯỜI QUẢN NGHĨA TRANG
Qua cuộc chuyện trò, tôi đuợc biết người quản trang có tên gọi là Rostam Gharibian, ông đã làm việc ở đây được 17 năm. 
Tôi hỏi, trong 17 năm đó có bao giờ ông thấy ai là con cháu hay người thân của ngài Alexandre de Rhodes đến viếng mộ ông ấy hay không. 
Thoáng chút đăm chiêu, ông trả lời rằng: vì là một thầy tu cho nên khi mất đi cũng như bao người khác Alexandre de Rhodes cũng không có vợ con. Và họ hàng thì cũng ở xa tít tận châu âu cho nên chắc cũng không ai còn nhớ.
Vì thế trong 17 năm nay ông cũng chưa hề nghe thấy một người họ hàng hay con cháu nào của ông đến thăm. Chỉ thĩnh thoảng đôi khi ông thấy có một vài người Việt Nam đến viếng mà khi đó thì ông cũng không biết họ là ai và có quan hệ như thế nào với người đã mất…
Anh Trường cùng người quản trang
THAY LỜI TRI ÂN
Theo truyền thống của những người Iran, tôi lấy một ít nước rửa lên nấm mồ của ông. Những giọt nước mát trong chảy lên bia mộ ông tựa như lời thì thầm của chúng tôi xin gửi đến người. Cả một đời ông cống hiến vì đạo. Và trong quá trình truyền giáo, với mục đích mong muốn truyền tải những thông điệp trong kinh thánh một cách dễ dàng hơn.
Ông đã không quản khó nhọc để tìm cách sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Và đến khi cuối đời, ngài đã lặng lẽ nằm lại nơi xứ người. Có lẽ giờ đây ông không còn một người bà con họ hàng nào nhớ đến ông để thỉnh thoảng ghé thăm chăm nom nấm mồ của ông nữa, nhưng có lẽ ông cũng ấm lòng khi biết rằng vẫn còn đó những người con nước Việt.
Vẫn còn đó hơn 90 triệu người con nước Việt trên khắp 5 châu sẽ Mãi Mãi không bao giờ quên ơn ông. Người đã có công vĩ đại trong việc chấm dứt 1000 năm tăm tối, 1000 năm khốn khó khi những người Việt phải đi mượn chữ Tàu ghi lại tiếng Việt.

Và giờ đây, hạnh phúc thay. Chúng ta đã có được bảng chữ cái của riêng mình. Một bảng chữ cái dựa trên các ký tự La Tinh nhưng vô cùng uyển chuyển và dễ học.
Xin cám ơn người, một vị đại ân nhân của những người con nước Việt. Xin tri ân người với lòng kính yêu sâu sắc: Linh mục Alexandre de Rohde !” (Cha Đắc Lộ)
Esfahan, Iran. 21/3/2017
TRẦN VĂN TRƯỜNG -VYC TRAVEL


Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Linh mục Giuse Phạm Minh Triệu: Chúng tôi luôn luôn sát cánh và hiệp thông với Thái Hà trong mọi tình huống.

Linh mục Giuse Phạm Minh Triệu: Chúng tôi luôn luôn sát cánh và hiệp thông với Thái Hà trong mọi tình huống.

Linh mục Giuse Phạm Minh Triệu hiện ở Giáo xứ Bảo Long, Nam Định, người đã từng nhiều lần đứng lên bảo vệ Công lý – Sự thật ở Giáo hội và Xã hội.
Xuất thân từ một Luật sư, ngài đã nhiều lần đấu tranh cho sự thật, công lý bằng chính pháp luật và luật pháp.
Xin giới thiệu bài phỏng vấn Linh mục Giuse Phạm Minh Triệu về biến cố vừa xảy ra tại Thái Hà vừa qua.
  1. 1. Kính thưa Cha Phạm Minh Triệu gần đây có những sự kiện xảy ra với Giáo Xứ Thái Hà Hà Nội, Cha ở giáo xứ Bảo long này thì Cha có được những thông tin gì và cảm nhận của Cha về việc đó như thế nào ?

Linh mục Giuse Phạm Minh Triệu – Quản xứ Bảo Long


Tôi nhìn nhận đây là đám người đã được chuẩn bị kỹ lưỡng vì quay camera. Bên ngoài có sự bảo vệ thì rõ ràng là do có sự bảo kê của chính quyền không thể chối cãi được nữa. Cơ quan hành pháp phải bảo vệ người dân,và nhất là các cơ sở tôn giáo nhưng đám đông người này có sự chuẩn bị, đó là một việc làm hết sức trơ trẽn, trái với lương tâm, trái với đạo lý con người. Hơn nữa nó còn trái với những gì mà nhà nước đã từng tuyên bố là Nhà nước Việt nam hoàn toàn có tự do tôn giáo. Những hình ảnh và việc làm này đã tỏ rõ rằng phường Quang Trung – Quận Đống đa đã không tôn trọng tôn giáo, không tôn trọng quyền con người.
Tôi hoàn toàn phản đối hành vi này.
  1. 2. Khi đám người ô hợp dưới sự bảo kê của chính quyền đã vào ngay trong sân nhà thờ có xô xát, có người còn nắm lấy cổ áo của Cha Gioan Lưu Ngọc Quỳnh xô đẩy, có kẻ còn đánh nguội thầy Tu Sĩ Nguyễn Văn Tặng. Họ đã lăng mạ linh mục tu sỹ là những hình ảnh thiêng liêng đối với chúng con thì với tư cách Cha là một linh mục, một tu sỹ trong giáo hội Ngài cảm thấy thế nào ?
Qua video Clip, tôi thấy một đám người rất là đông, hung hãn, túm cổ áo của một linh mục để rồi giằng co, có những lời lẽ xúc phạm. Tôi thấy đó là một sự xúc phạm. Là một linh mục có lẽ trong đời tôi chưa từng có kinh nghiệm đó nhưng tôi thấy như vậy là một hình ảnh suy đồi đạo đức, đạo lý Việt Nam. Truyền thống của Việt Nam là tôn trọng các tôn giáo, các chức sắc tôn giáo, không phân biệt là công giáo hay phật giáo đều được xã hội ghi nhận và tôn trong nhưng cho đến nay đã đến lúc đạo đức đã bị báo động, xuống cấp.
Về mặt chính trị thì có một sự bảo kê nào đó đằng sau thì những người này mới có thể có những hành vi vi phạm như vậy; Bởi vì khi Nhà nước hoặc một tổ chức nào xúc phạm tôn giáo thì khác nào những người này tuyên chiến với tôn giáo, và như coi như thế là họ đã tự đánh mất chính mình. Tôi đã từng nói là tuyên chiến với tôn giáo là tự sát.
  1. 3. Cám ơn Cha rất nhiều về câu trả lời trên. Có một điều chúng con biết và rất thán phục Cha là Cha đã tốt nghiệp chính quy trường Đại Học Luật, xét dưới góc độ pháp lý thì Cha đánh giá về những việc vi phạm pháp luật của đám người gọi là “tự phát” nhưng có tổ chức như trên như thế nào?
Thứ nhất là đã học tại Đại học Hà Nội, tôi cũng được học và theo sự hiểu biết của tôi thì đây là một hành vi vi phạm pháp luật có tổ chức rõ ràng, có thể cấu thành tội phạm về việc hành hạ người khác, đập phá các cơ sở tôn giao có thể cấu thành tội phạm hủy hoại tài sản của cá nhân, tổ chức mà tổ chức ở đây là DCCT. Theo pháp luật thì xúc phạm đến các cơ sở tôn giáo là nằm trong trường hợp Nhà nước phải lên tiếng trong những trường hợp như thế này. Tôi nghĩ đây là một hành vi vị phạm pháp luật quá rõ ràng, không cần phải tìm chứng cứ cũng có thể cấu thành tội phạm trực tiếp hành hung người khác, hủy hoại tài sản của người khác mà ở đây chính là của DCCT Thái Hà
Nếu xã hội còn có pháp luật thì ngay lập tức phải tiến hành điều tra, ngăn chặn và phải làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của đám người này.
  1. 4. Theo chúng con được biết thì DCCT và Giáo Xứ Thái Hà cũng đã làm đơn gửi lên các cơ quan công quyền trình báo về hành vi vi phạm pháp luật của đám người này. Theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của Cha thì Ngài cảm thấy câu chuyện này sẽ đi đến đâu ạ ?
Xét về góc độ pháp lý và lý luận thì nếu xã hội còn có một chính thể thì các cơ quan điều tra phải có trách nhiệm điều tra, thụ lý tất cả các đơn khiếu nại, đề nghị của người bị hại là DCCT. Nhưng qua kinh nghiệm thực tế thì từ vụ giáo dân năm 2008 cho đến vụ xét xử Cù Huy Hà Vũ, các vụ xét xử liên quan đến đất đai thì tôi thấy rằng, không phải là bi quan nhưng các đơn từ của các Cha như vậy khác nào, tôi có thể nói là “đánh trống vào tai trâu”. Cho nên là về mặt giải quyết triệt để, đúng pháp luật, đúng người đúng tội thì không dễ dàng. Nói như vậy không phải là bi quan mà vì các cơ quan hành pháp, tư pháp, lập pháp không độc lập với nhau mà đều dưới sự chỉ đạo của một tổ chức. Mà tổ chưc đó đã có kinh nghiệm chỉ đạo lén lút. Việc thủ tục phải làm thì các cha phải làm nhưng xét về thực tế thì Không bao giờ có việc giải quyết đến nơi đến chốn nếu còn để thể chế cộng sản này.
  1. 5. Cuối cùng xin cha có gửi gắm điều gì với Anh Chị Em giáo dân Thái Hà và cũng như các Linh mục, tu sỹ Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội đang trong lúc khó khăn đối mặt với nhiều hành vi khiêu khích, tấn công này.
Thứ nhất về mối quan hệ thì giáo xứ Thái Hà và giáo xứ Bảo Long thì có mối quan hệ đặc biệt. Cách đây nửa năm thì dòng CCT đã ưu ái về đây làm tuần đại phúc, cuối tuần công việc vừa thiêng liêng vừa có ý nghĩa đó thì tôi có tuyên bố “Việc của Bảo Long cũng là của Thái Hà và việc của Thái Hà cũng là việc của Bảo Long”. Sau khi nghe tin giáo xứ Thái Hà đã bị đàn áp, đánh đập thì tôi đã gọi điện thoại hiệp thông với cha phó bề trên chính xứ Thái Hà để hiệp thông với toàn thể giáo xứ Thái Hà. Ngoài ra giáo xứ Bảo Long chúng tôi còn có mời gọi mọi người cầu nguyện, dâng thánh lễ và đặc biệt là tối ngày hôm nay Chủ nhật ngày 6/11 toàn giáo xứ sẽ thắp nến cầu nguyện cho GX Thái Hà; Và nhất là không phải chúng tôi hiệp thông với một tình cảm cá nhân nhưng với văn thư của Tòa Tổng giám mục Hà Nội thì chúng tôi thấy rằng chúng tôi đã cùng Đấng bản quyền hiệp thông phản đối các cơ quan truyền thông vu cáo, quyên tạc với ý đồ đen tối.
Thông qua 2 nội dung của đấng bản quyền HN, Giáo xứ Bảo Long cũng hoàn khẳng định và tôn trọng quyền sở hữu của DCCT trên khu đất 61,455m2 tại 180 Nguyễn Lương Bằng, Đống Đa bao gồm các phần đất, phần tài sản của giáo xứ.
Thứ hai là chúng tôi cực lực phản đối, không chấp nhận những hành vi thiếu văn hóa và vi phạm pháp luật của nhóm người đã xuất hoàn toàn ủng hộ chủ quyền, đặc biệt là những hành vi
Chúng tôi, Giáo xứ Bảo Long, luôn luôn sát cánh và hiệp thông với Thái Hà trong mọi tình huống. Chúng tôi luôn luôn yểm trợ bằng lời cầu nguyện và các khả năng có thể. Bởi vì giáo xứ Thái Hà cũng là một thành phần trong giáo hội và trong Tổng giáo phận Hà Nội.
Xin cám ơn Cha đã trả lời phỏng vấn chúng con.
Quốc Lê

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

Giáo Họ Nghĩa Lễ - Gx Bảo Long

một ngày gần nhất chúng tôi sẽ đăng tải nhưng thông tin của giáo họ nghĩa lễ

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

TIỂU SỬ ÔNG PHẠM ĐÌNH TÂN

Tiểu sử

Nhà nghiên cứu Phạm Đình Tân, bút danh Từ Huệ, Lĩnh Việt, sinh ngày 15-1-1913 (Quý Sửu) tại Bảo Long - Mỹ Hà Mỹ Lộc - TP. Nam Định, tỉnh Nam Định, không rõ năm mất.

Thuở nhỏ học ở trường Thành Chung Nam Định, gia nhập làng báo ở Nam Định, Hà Nội. Từng chủ trương tuần báo Thanh niên công giáo ở Nam Định, tuần báo Phụng sự ở Hà Nội, văn đàn Tinh Việt.

Sau năm 1954 di cư vào Nam, sáng lập và điều khiển tuần báo Văn Đàn và nguyệt san Lá thư xanh. Với cương vị văn đoàn trưởng Tinh Việt ngay từ năm 1945, ông thành lập và tổ chức một số giải thưởng văn học, sử học mang tên hai nhà văn lớn: Việt Nam và quốc tế. Đó là các giải: Trương Vĩnh KýLe Comte du Nouy.

Ông có chân trong Hội văn bút Việt Nam (Sài Gòn) và Phong trào trí thức công giáo Việt Nam Pax Romana.

-Trần Bắc Sưu Tầm-

● PHẠM ĐÌNH TÂN (1913-X)


TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

° Phạm Thanh [15]

Sinh năm 1913 tại Bảo Long, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. Phạm Đình Tân từ thuở nhỏ đã học quốc ngữ và Pháp văn. Ra trường, ông bắt đầu viết bài cho các báo Phụ nữ thời đàm, Thanh Nghị, Phụng Sự, Tinh Thần. Ông chủ trương báo Thanh Niên và Văn Đàn cùng với Phạm Đình Khiêm. Năm 1946, cả hai cùng thành lập tủ sách Thanh Niên Chuyên San, để đăng các tác phẩm của nhóm. Đây là bước đầu của Tinh Việt Văn Đoàn. Văn đoàn này tổ chức rất đơn sơ, nhưng gồm toàn những người có tâm huyết, nhằm mục đích “đem đạo vào đời”, đem tinh thần công giáo để xây dựng cho văn hóa dân tộc. Sau này ông còn là chủ nhiệm của tuần san Văn Đàn.

Năm 1958 ông thành lập và tổ chức hai giải thưởng văn học Trương Vĩnh Ký và Le Comte du Nouy. Năm 1960, ông khởi xướng, tổ chức và điều khiển các buổi hội thảo về lịch sử và văn chương. Năm 1968, ông sáng lập và làm tổng thư ký trung tâm nghiên cứu và thông tin Chân lý. Cũng năm đó ông sáng lập và làm tổng thư ký trung tâm Giáo dục Minh Thế.

Văn nghiệp.

Phạm Đình Tân là một cây viết già dặn và phong phú. Ông viết thật nhiều và thật dễ dãi.

Chúa Cứu Thế với thanh niên, dịch từ Thiamer Toth. Saigon: Tinh Việt Văn Đoàn, 1950.

Tiếng thầm (thơ) Hà Nội, 1952.

Ozanam với Hội Thánh, Saigon: Văn Đàn, 1953.

Tiếng thầm-Lời thiêng (thơ), Saigon, 1960.

Tòa Thánh La Mã, Saigon, 1960.

Trên đường về, Saigon, 1963.

Chúa Cứu Thế với gia đình.

Chúa Cứu Thế với thời nay.

Đức Mẹ giữa chúng ta.

Chìa khóa mở cửa thành công.

Kiến thiết tinh thần.

Duy Đức, học sinh trinh thám, tiểu thuyết giáo dục.

Thân phận lao động.

Ngoài ra ông còn dịch một số sách như:

Tiến hóa tư tưởng của một nhà khoa học: Le Comte du Nouy.

Nhật ký Cô An.

Lịch sử Gia Nã Đại.

Lịch sử Mễ Tây Cơ.

Theo dõi những công việc của Tinh Việt Văn Đoàn và của riêng Phạm Đình Tân, những người có tâm huyết với văn học Việt Nam phải công nhận rằng ông đã đóng góp thật nhiều và thật quý giá cho văn hóa dân tộc. Ngoài những đóng góp bình thường của một nhà văn nhà thơ Việt Nam, ông còn đem hết cuộc đời và tâm tư để xây dựng cho dân tộc trong ba lãnh vực:

Giới thiệu những tư tưởng và đạo sống của Tây phương cho người mình bằng những sách dịch nổi tiếng từ Pháp văn.

Đem những tinh hoa của Đạo Công Giáo bồi đắp và phong phú hóa tâm hồn và đạo sống Việt Nam bên cạnh đạo lý của Tam Giáo.

Chia sẻ cuộc sống đạo hạnh và nhiệt tâm của một tín đồ công giáo thuần thành và một người Việt mô phạm.

Qua cuốn Trên đường về, độc giả thấy rõ thiện chí của một người đi tìm chân lý và đạo sống. Chân lý và đạo sống đó rất phù hợp với Đạo sống truyền thống Việt Nam. Cuộc đời và thơ văn của ông đã chứng minh điều đó.

Bàng Bá Lân viết: “Văn Đoàn Tinh Việt là văn đoàn thọ lâu hơn hết các văn đoàn có trên đất Việt Nam”. Phê bình thơ Phạm Đình Tân, họ Bàng viết: “ Đọc thơ tôn giáo của Phạm Đình Tân, tôi không thể không liên tưởng đến thơ Hàn Mặc Tử. Tôi phải thành thực nhận rằng: tuy Phạm Đình Tân rất ngoan đạo, nhưng so với Hàn Mặc Tử, đời anh tương đối bình an... nên thơ tôn giáo của anh cũng dễ dãi hiền lành, không sôi nổi đau thương, không xúc động mạnh người đọc như những vần thơ rướm máu của Hàn Mặc Tử.”[16]

TRÍCH TUYỂN THƠ

ĐAU ĐỚN

Đau đớn là đường lên Ánh sáng!

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tự thuở nào, Người trụt xuống trần gian,

Tổ tiên xưa con cháu cả nhân hoàn,

Vì một tội mà trầm luân muôn kiếp.

Đầu muốn ngửng: xác thịt đè liên tiếp!

Mắt trông lên: mí nặng cúi nhìn chân!

Một chút gì của Chúa liễm vào thân

Hằng nhớ tưởng tuyệt vời nơi Thiên quốc.

Nhưng than ôi! tội vần hồn kiệt nhược,

(Sức mọn hèn chống đỡ được là bao!)

Nên từ lâu cho tới ngày nào

Cả nhân loại đẫm mình trong bóng tối!

Một tội tổ giắt theo ngàn giống tội,

Một phạt hình u ám cả muôn năm!

Nguồn bùn dơ lan chảy khắp trần phàm,

Ngọn lửa phạt thiêu sầu muôn thế kỷ.

Đã bao năm, đã bao năm rền rĩ,

Tiếng khóc than không ngớt, không ngừng thôi.

Biết bao giờ hồn thảm thoát lò sôi

Ra khỏi chốn tối tăm và yên lặng ?

Đau đớn là đường lên Ánh sáng!

Chúa nhân loài thương nhớ một đàn con.

Vì tổ tiên chìm đắm cả linh hồn,

Và xác thịt bầy mồi cho quỷ dữ.

Khắp đây đó, Chúa trông nhìn vũ trụ,

Đâu oai quyền xứng đáng với trần gian ?

Đâu ơn thiêng rẩy tưới đất khô khan ?

Đâu công nghiệp rỡ ràng soi bóng tối ?

Trong vực thẳm, ai dám cao tiếng gọi ?

Đấng nhân lành tha thứ tội ngàn xưa ?

Không, cả trần gian hư thối đen mù!

Hồn dầu dãi không còn... thật không còn đáng kể.

Chúa buồn bã thầm rơi ánh lệ,

Biết vì ai nhẹ giảm tội tình sâu

Cho đàn con lưu lạc chốn u sầu

Được ngẩng mặt trông lên Cha sáng láng ?

Đau đớn là đường lên Ánh sáng!

Cha vì con phải hạ xuống trần gian,

Bỏ ngai vàng cao quý chốn vinh quang!

Bỏ rực rỡ triều thiên ngàn ánh lạ!

Bỏ bầy tôi trung thành nơi cao cả!

Từ giã trời, cung điện tối uy linh,

Xuống trần gian sống giữa chốn hôi tanh,

Để hàn gắn những vết thương đang rộng mở.

Ôi! lòng nhân từ vô độ!

Ôi! tình yêu tuyệt đối không cùng!

Tay công bằng thẳng phạt kẻ kiêu căng.

Tay nhân đức vuốt ve hồn tội lỗi.

Từ đêm ấy trong hang lừa u tối,

Chúa bắt đầu nhận lấy chuỗi lao lung

Để người ta được thấy phút vui mừng

Trên thiên quốc tưng bừng hương sáng!

Đau đớn là đường lên Ánh sáng!

Chúa hiến mình làm bia bắn của Đau thương.

Tay nâng niu ôm ấp mối sầu trường,

Tim khắc khoải trong muôn nghìn cay đắng,

Cây thập giá trên xác trần đè nặng,

Đường đau thương sỏi đá buốt thịt xương!

Nước bọt dơ quân dữ nhổ chán chường

Trên mặt thánh máu me nhễ nhại!

Cả mình thánh ê chề tê tái,

Triều thiên gai: đau đớn mỉa mai sao!

Giờ trông mong sắp tắt mọi u sầu,

Chúa kêu khát. Và dấm đưa thay nước.

- Ta nuốt hết đau thương tủi cực

Để mở đường hạnh phúc cho trần gian.

Phút cuối cùng quân độc dữ, hung tàn

Còn cầm mác đâm thêm dấu nữa.

- Đây giọt máu của lòng ta chan chứa

Yêu trần gian làm của lễ dâng Trời.

Bao đau thương, bao tủi cực, bao tơi bời,

Ta đã nếm, đã uống, và đã chịu.

Ôi! Hỡi trần gian tội chĩu,

Từ giờ đây đường hạnh phúc thênh thang.

Hãy theo ta, theo rõi bước đau thương

Để tiến tới nơi đầy Ánh Sáng.

Đau đớn là đường lên Ánh Sáng!

Chúa muôn loài đã sống lại hôm nay.

Tiếng mừng ca vang dậy khắp đó đây

Vẻ đắc thắng tưng bừng trên các mặt.

Thiên thần hát, nhạc thiêng lừng ánh ngát.

Hoa tung đài, nở nhị vút muôn hương.

Cả trần gian đứng dậy. Khắp ngàn phương

Lòng hớn hở reo theo lời cảm tạ.

Chúa bằng lòng mỉm cười từ giã

Và oai nghiêm trở lại chốn Vinh Quang

Là nơi từ ngàn xưa trong chốn đền vàng,

Chúa ngự trị và nhận lòng cung kính.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đau đớn là đường lên Ánh Sáng!

Chúa muôn loài vạn tuế! Sáng muôn năm!

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Bài viết nhân 50 năm Tưởng niệm Đức Cha Đa Minh HỒ NGỌC CẨN (27.11.1948-27-11.1998)

[2] Hồ Ngọc Cẩn : Văn chương thi phú Annam, Hồng Kông : In lần thứ hai. Nhà in Hội Truyền Giáo Paris. 1923, trang 126-28.

[3] Bài này đăng trên tạp chí Văn, Sài Gòn, số 179, ngày 1-6-1971, chúng tôi lấy lại theo bản in trong quyển “Hàn Mặc Tử…” của Phan Cự Đệ (Nxb…………..)

(1) Vũ Ngọc Phan, nhà văn hiện đại III, 1942 = ấn bản 1951. NXB Vĩnh Thịnh. Hà Nội, tr. 326.

(2) Hoài Thanh và Hoài Chân, thi nhân Việt Nam, Thiều Quang tái bản. Sài Gòn, 1967, tr. 204.

(3) Văn, số đặc biệt đăng về Hàn Mặc Tử, 73-74, ngày 7-1-1967,tr. 139.

(*) (?)

(4) Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 141-148.

(5) Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 141-148.

(7) Thơ Hàn Mặc Tử đều trích từ ấn bản Tân Việt, Sài Gòn, 1959 – ấn bản này không đánh số trang, tôi dựa theo mục lục mà ghi số trang, để bạn đọc dễ kiểm chứng.

(8) Huỳnh Phan Anh, Văn, số 73-74 đã dẫn.

(9) Vũ Ngọc Phan, sđd, tr,322.

(10) Hoài Thanh và Hoài Chân sđd, tr. 212.

(10)

(11) Hoài Thanh và Hoài Châu, sđd, tr. 211.

(11) Hoài Thanh và Hoài Châu, sđd, tr. 211.

(11) Hoài Thanh và Hoài Châu, sđd, tr. 211.

(12) Văn, số đặc biệt về Hàn Mặc Tử, đã dẫn tr. 120.

(13) Jacques Dournes, Dieu Aime les Paiens, Aubier. 1963, tr.149.

(14) Văn, sđd, tr. 47.

(15) Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 326.

(16) J. E. KERNS, S. J Les Chrétiens, Le Mariage et la Sexualité. Edit. Du Cerj. 1966.

(17) J. E. KERNS, S. J. sđd, tr. 94.

(18) Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 73.

(19) Trần Thanh Mại, sđd, tr. 73

(20) Thư MC, do Trần Thanh Mại trích, sđd, tr. 95.

(20)

(21) Trần Thanh Mại, sđd, tr. 95.

(22) Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 88.

(23) Trần Thanh Mại, sđd, tr. 193.

(24) Trần Thanh Mại, sđd, tr. 212.

(25) Vũ Ngọc Phan, Sđd, tr. 330.

(26) Hoài Thanh và Hoài Chân, Sđd, tr. 212.

(27) Trần Thanh Mại, Sđd, tr. 120.

(28) Nguyễn Công Hoan, tạp chí văn nghệ Hà Nội, số 67, tháng 12 – 1962 và 68. Tháng 1 – 1963 về Tú Xương. Tôi đã đề cập tới trong Văn, số 163, ngày 1-10-1970.

(29) Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 116.

(30) Trần Thanh Mại, trích sđd, tr. 120.

(31) Hoài Thanh và Hoài Chân, Sđd, tr. 221.

(32) Charles Journet, Le Mal, essai théologique, tủ sách giáo lý, Desclée de Brouwer, Bruges, Bỉ, 1961, tr. 271.

[4] Đây là phần II và III của thiên khảo luận bằng tiếng Pháp L’Expérience poétique et l’itinéraire spiriuel de Hàn Mặc Tử, đăng tập san Bulletin de la Sociéte des Etudes Indochinoises (Sài Gòn, loại mới bộ XLVII số 4 quý 4 năm 1972, trang 567-632) và đồng thời in riêng thành sách (Nxb La Voie Nouvelle, Paris tái bản, 1985). Phần I nhận định khái quát về cuộc đời và tác phẩm đã trích đăng ở phần “tác giả và tác phẩm” trên đây.

(*) Trong nguyên bản tiếng Pháp:”Talchimie rimbaldienne du verbe” (chú thích của P.C.Đ)

(*) Nguyên văn tiếng Pháp là “La présence créatrice du Verbe de Dieu” (PCĐ); Thần Ngôn Thiên Chúa. Tức là Ngôi Lời Thiên Chúa (LĐB).

(*) Nguyên văn: “Notre-Dame du Rosaire dans l’économie divine” (chú thích của P.C.Đ).

[5] Phật giáo chia thế giới làm hai cõi: thế gian và xuất thế gian tức là thế giới hữu hình và thế giới vô vi; đây sánh xuất thế gian với cõi thanh tịnh của lòng.

[6] Danh từ biểu lộ sự hoan hỉ và cung kính đối với Thiên Chúa.

[7] Tiếng nhạc trên trời rất mầu nhiệm, hình dung được cả sự phương phi.

[8] Chàng đây là thi sĩ, không phải chàng của thiếp.

[9] Ý nói sự ngợi khen có văn vẻ như trong sách XuânThu.

[10] Ý nói sự ngợi khen có văn vẻ như trong sách Xuân Thu.

[11] Ý nói cầu nguyện sốt sằng cảm động được màu sắc của không gian, biến từ sắc xám hay đen ra trắng hoặc nói cầu nguyện từ đầu hôm cho tới sáng bạch.

[12] Song lộc triều nguyên: theo sách tử vi, sao Hóa Lộc và sao Lộc Tôn đóng ở cung Chính diện, chiếu vào bổn mạng ai thì người ấy sẽ giàu sang. Đây là chú thích theo tập Thơ Hàn Mặc Tử (Nghĩa Bình xuất bản, 1988, tr. 13). Nhà nghiên cứu Võ Long Tê trong bài Kinh nghiệm thơ và hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử đã chú thích dựa theo một câu của Thánh Vịnh số 42-43).

[13] Trí miêu duệ: Trí là Nguyễn Trọng Trí, miêu duệ là con cháu. Ý Hàn Mặc Tử nhận mình là con cháu của thánh.

[14] Phượng Trì: cung giao Trì là nơi ở của Tây Vương Mẫu theo điển tích Trung Quốc, Hàn Mặc Tử dựa vào đó mà đặt tên cho thánh cung Maria là Phượng Trì. Nguyễn Bá Tín cho hai chữ Phượng Trì bắt đầu từ nhân vật Cam Phượng Trì trong cuốn phim Hỏa thiêu Hồng Liên tự.

[15] Thi nhân Việt Nam hiện đại, Nxb… năm…, trang…

[16] Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại. Saigon : Xây Dựng, 1962, trang 185-189.

Tác giả Lê Đình Bảng

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

Tình Của Mẹ


Trần Bắc trân trọng gửi tới quý vị bài hát Tình của Mẹ

Niềm vui là trao tặng

Niềm vui là trao tặng

coeur_en_feu_____mTrải nghiệm trong cuộc sống cho thấy, hiếm có ai hài lòng với mình, với người khác và với cuộc đời. Trong khi tiếp xúc với người khác, với bạn hữu, với đồng nghiệp và với mọi người, người ta thường thấy những hiểu lầm, ghen ghét, phê bình, chỉ trích. Thiết nghĩ đó là những thiếu sót của tình yêu, của cảm thông. Ai cũng đều hiểu rằng, nếu người ta biết trao tặng nhau những lời yêu thương và những nụ cười nho nhỏ thì chắc chắn cuộc sống sẽ vơi đi nhiều những căn bệnh bất hòa mãn tính của lòng người.

Có một tác giả đã viết: "Trái tim không phải là một món hàng để mua bán, nhưng chính là một món quà để trao tặng. Một trái tim không biết trao tặng là một trái tim chết, một trái tim không biết rung động trước những đau khổ của anh em đồng loại là một trái tim khô cằn sỏi đá.

Người ta thường phân biệt sang hèn thành giai cấp, thứ bậc. Có những người tiền rừng bạc biển, có những người khố rách áo ôm. Nhưng cộng chung giầu hay nghèo, sang hay hèn, mọi người đều có một trái tim. Đúng vậy, lẽ ra những trái tim ấy phải giống nhau, vì chức năng của con tim là như nhau. Giá trị của trái tim là trao nhau, là hiến tặng. Chính lúc trao tặng cho nhau như thế là người ta đã cho nhau một món quà vô giá. Món quà đó không phụ thuộc vào số lượng và tiền tài mà chính là ở thái độ trìu mến, một nụ cười yêu thương của trái tim.

Thượng đế đã tạo dựng con người để được sống hạnh phúc và hạnh phúc ngay trong cuộc sống này. Niềm tin vào Thượng đế dù ở tôn giáo nào cũng không chỉ hướng đến hạnh phúc đời sau, nhưng còn mời gọi hết mọi người hưởng hạnh phúc ngay ở đời này. Mặc lấy thân phận con người, người ta được mời gọi hưởng niềm hạnh phúc trong yêu thương và phục vụ nhau. Bí quyết hạnh phúc mà Thượng đế đã trao tặng là hãy biết nhìn nhận và đón lấy những nghịch cảnh và chấp nhận nó ngay trong cuộc sống này. Bí quyết hạnh phúc cũng chính là biết đón nhận những niềm vui nhỏ bé và đem trao tặng.

Không ai cho mình là người có đủ mọi thứ, có nghĩa là người ta còn đang thiếu và cần có cho đủ. Có sống những ngày xa gia đình họ mới biết quí trọng và nhớ nhung những ngày tháng sống êm đềm bên người thân. Có đau đớn quằn quại trên giường bệnh họ mới thấy giá trị của sức khỏe. Khi lầm lỗi họ mới biết cảm thông với người lỗi lầm. Khi quỵ ngã họ mới biết đỡ nâng những người sa đọa. Khi lang thang họ mới biết đắng cay của người không nhà. Cuộc sống có vô vàn những niềm vui lớn nhỏ và chỉ khi nào mất nó người ta mới cảm thấy luyến nhớ và nuối tiếc. Chính lúc buồn chán thất vọng nhất, chính lúc gặp những mất mát thua thiệt nhất là lúc người ta cần nhớ mình vẫn luôn có một bàn tay vô hình nào đó của Thượng đế đỡ nâng.

Chắc chắn niềm vui không phải là một kho tàng có sẵn mà phải luôn được kiến tạo hàng ngày. Kiến tạo niềm vui cho mình bằng cách hãy làm cho người khác được vui, càng trao ban thì niềm vui càng lớn mạnh. Ai cũng có một điều gì đó để trao tặng, để nâng đỡ người khác, nếu không phải là tiền bạc, thì có thể chia sẻ với tha nhân một chút ít thời gian, một chút ít kiến thức và tài năng của mình. Chắc không ai nghèo đến mức mà không có lấy một chút gì cho người khác bởi vì ai cũng có thể chia sẻ tình thương của mình cho người bên cạnh. Điều quan trọng là người ta có sẵn sàng trao ban hay không mà thôi.

Nói những lời yêu thương và nở một nụ cười bằng sự trìu mến, đó là bí quyết giúp ta được vui. Hãy dùng nụ cười để che đi những ganh ghét, hiểu lầm. Hãy dùng nụ cười để xóa đi những bất hạnh, đau buồn. Vì cho đi là lãnh nhận. Có như thế cuộc sống quanh ta sẽ chứa chan niềm vui.

Giuse Trần Văn Bắc

Sống đạo giữa cuộc đời

Sống đạo giữa cuộc đời

van_phongNhiều khi người Kitô chúng ta cứ băn khoăn làm sao sống Đạo cho tự nhiên ở những nơi mình làm việc. Có lẽ có một kinh nghiệm sống Đạo cho thật hữu ích đó là hãy đem tâm tình cầu nguyện vào mỗi hành động.

Có lúc chúng ta như không thấy Chúa vì lời nói không nhắc tới Chúa, vì Chúa không hiện ra làm phép lạ để thay đổi tình thế rắc rối ngay lập tức nhưng không vì thế mà ta cho rằng Chúa không hành động. Chúa vẫn đang hành động qua đôi tay, qua bước chân, qua suy nghĩ và lời nói của chúng ta. Dưới đây là một lá thư nho nhỏ của một thư ký lo việc tổng hợp cho một văn phòng chuyên thiết kế và thi công nội thất những công trình dân dụng, công trình giải trí ở Hà Nội. Một người theo Chúa giữa đông người chưa theo Chúa nhưng hy vọng sự hiện diện của Chúa qua hữu thể nhỏ bé ấy theo thời gian sẽ đánh động cả văn phòng. Dù hữu thể ấy sau này sẽ không còn ỏ đó nhưng dư âm về một người Sống Đạo thì không phải là không có tác dụng gì đâu...

LÁ THƯ GỬI VĂN PHÒNG TRƯỚC KỲ NGHỈ DÀI NGÀY 30/04 – 02/05

...Vậy là những cơn mưa tháng Tư sẽ qua đi để nhường cho hoa tháng Năm bừng lên rạng rỡ. Nhưng hoa tháng Năm sẽ rạng rỡ hơn nhờ những nụ cười của Người Big House – người có trái tim bao dung và ôm ấp ước mơ góp vẻ đẹp cho đời.

... Vậy là chúng ta đã đi với nhau một quãng đời, có dài, có ngắn nhưng không khi nào không có kỷ niệm. Mỗi một sáng qua đi, mỗi một chiều lại tới rồi một ngày cũng tan ra cho chuỗi kỷ niệm dài thêm. Cùng chung một không gian và thời gian chúng ta cũng cùng ảnh hưởng lên nhau cảm giác vui buồn. Có thể sở thích ta khác nhau, có thể cảm nhận của ta khác nhau nhưng ta đang ở bên nhau.

Có thể hôm nay tôi im lặng nhưng không phải là tôi không muốn nói gì với bạn. Đôi tai lòng của tôi vẫn đang lắng nghe nhịp thời gian, nhịp xúc cảm nơi bạn với công việc và với những gì tác động tới bạn từ bên ngoài và diễn biến tâm lý của bạn tự bên trong. Niềm vui nơi tâm hồn thật mãnh liệt phải không?

... Vậy là Người Big House chúng ta sắp được nghỉ như bao nhiêu người văn phòng khác. Một chút tình lắng đọng lại trang thư gửi về các bạn, những người sống quanh tôi. Qua đây tôi cũng gửi tới các bạn lời chúc sức khỏe, kỳ nghỉ thật vui vẻ, bình an của anh Tuấn Anh, giám đốc chúng ta kèm theo chút quà nhỏ nữa. CHÚC KỲ NGHỈ VUI VẺ!

Thứ Sáu tuần Bát Nhật Phục Sinh 29/04/2011 - Tín hữu

Tình Người Là Tha Thứ

Tình người là tha thứ

Yeu_thuong_tha_thuCuộc sống của con người là sống với người khác, sống với người thân cận. Những người khác đó có thể họ ngay bên ta, có thể họ không gần ta. Những người khác đó có thể họ yêu thương ta hay họ đang ghét ta. Trong cuộc sống thường ngày, vô tình hay cố ý, có người đã đối xử với ta không tốt, trong lời nói cũng như trong việc họ làm.

Thường mà nói là con người ai cũng có những hoài niệm, có khi những hoài niềm đó làm cho ta vui, đôi khi những hoài niệm đó làm ta buồn, làm ta giận, làm ta hận và thù ghét. Chắc chắn những hoài niệm này sẽ có liên quan đến người khác. Những người khác đó có thể là ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bạn bè hay tình làng nghĩa lối xóm với nhau. Vậy điều quan trọng là ta tìm ra cách nào để quên đi những hoài niệm đáng buồn đó?

Tha thứ là điều khó lắm nhưng cũng chính là điều cao cả mà các tôn giáo đều dạy ta phải cống hiến cho người khác. Cho nhau tình yêu, cho nhau tiền của, cho nhau thời giờ có khi những điều đó còn dễ làm hơn là cho nhau một sự tha thứ.

Nhiều người ngày nay chắc chắn không thể hiểu được tha thứ là gì. Tha thứ là sự cho đi của tình người. Bởi chính tha thứ làm cho ta biết yêu tất cả những người đã mang lại cho chúng ta những hoài niệm của đau khổ, yêu những ai đã mang lại cho ta một sự giận ghét. Thật là cao cả khi ta biết quên mình bỏ qua tự ái ích kỷ cá nhân để sống hòa hợp với anh em.

Viết đến đây tôi nghĩ lại một câu chuyện mà tôi đã chứng kiến, có lẽ câu chuyện này đã làm cho tôi phải suy nghĩ nhiều về sự tha thứ cho người anh em: Có hai gia đình nọ cùng là xóm láng với nhau, chơi với nhau rất thân tình. Một hôm không biết vì chuyện xích mích gì mà hai gia đình đó không đến với nhau, không hỏi han nhau như mọi ngày nữa. Lần kia một trong hai gia đình mang cây nhà mình ra trồng tại một dải đất không thuộc của mình, mà cũng không thuộc về nhà bên cạnh. Dải đất đó có lẽ là dải đất chung thì phải. Ấy vậy mà khi trồng cây ra đó thì gia đình kia chửi máng quá trời và ông xóm láng bên cạnh cũng không kém. Xích mích càng ngày càng trầm trọng. Một cụ già trong một gia đình mới nói với con cháu mình rằng: "Thôi chúng bay đừng có cãi nhau làm gì, chắc chắn xích mích và cãi nhau như thế thì không bao giờ có điểm chung đâu, điều quan trong là một trong hai bên có giám nhận sai về mình hay không. Hay có giám chịu thiệt và nhận ra mình có lỗi và có giám tha thứ cho nhau hay không thôi."

Vâng! đúng là như vây chỉ khi con người giám nhận mình sai trong những cuộc giao tiếp cãi cọ, biết chịu thiệt thòi về mình thì chắc chắn sự đổ vỡ trong gia đình không có, mà ngược lại gia đình và tình làng nghĩa xóm niềm vui ngập tràn. Biết bao gia đình tan vỡ mất hạnh phúc chỉ vì tính tự ái cá nhân, biết bao cuộc gây gổ bất hòa chỉ vì không biết chịu đựng, và biết bao tình bạn cao quí đã phải chia tay chỉ vì những xích mích nhỏ nhen, đưa đến hiểu lầm nhau !

Tại sao ta không thể ngồi lại với nhau, giãi bầy tâm tư ước nguyện với nhau rồi cùng nhau giải quyết và cảm thông cho nhau.

Cuôc sống ngày nay thật bon chen, nhưng ngược lại các cụ tổ tiên Việt Nam chúng ta có câu "Lấy Ân Trả Oán" thật đúng! không có cách trả thù nào cao quí cho bằng yêu thương và tha thứ.

Thời đại chúng ta thiết nghĩ đang có những cuộc cách mạng bạo động. Một xã hội văn mình làm sao có thể lấy những cuộc bao động mà giáo dục con người trở thành "người" được. Chỉ có cuộc cách mạng duy nhất mới cứu vãn được con người và nhân lại ngày nay: Đó là cách mạng của tình yêu thương, chỉ có cách mạng tình thương ấy mới tiêu diệt được những hoài niềm của sự oán hờn ghen ghét và hận thù.

Mỗi chúng ta có thể sống bằng một niềm vui, một tình thương trao ban để qua đó mọi người nhận ra Thượng Đế là Thiên Chúa của tình yêu thương. Người không bao giờ đầu hàng với những yếu hèn và khuyết điểm của con người. Và chỉ có Thượng Đế là tha thứ không ngừng mới có thể đòi buộc con người không ngừng thứ tha. Tha thứ chính là sự cao trọng của tình người, vì chỉ có thứ tha con người mới giống Thượng Đế và gần Ngài./.

Giuse Trần Văn Bắc

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

Các Bài Thánh Ca Của Trần Bắc

Kính Chúc các bạn một niềm vui và bình an trong Chúa Kitô Phục Sinh
Trần Bắc Thân Tặng Các Bạn : http://thanhcavietnam.net/#Singer,1669

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

“Anh tìm thấy chính mình rồi đánh mất

“Anh tìm thấy chính mình rồi đánh mất Giống như tóc thề em nuôi rồi lại cắt Lầm lỗi thay tên bằng lãng quên Nhưng sám hối đâu chỉ cần cúi mặt." (thơ Freddie Nguyễn)Vâng. Lầm lỗi vẫn thay tên bằng lãng quên; và, sám hối có đâu chỉ cần cúi mặt. Bởi, lầm lỗi dù có thay tên bằng gì đi nữa, thì đời người vẫn cứ tít mù trong vòng quay biền biệt, một chân trời. Thứ chân trời luôn mời gọi con người hãy sám hối và đổi thay, như Tin Mừng Chúa dặn. Tin Mừng hôm nay, dặn dò khá kỹ về trường hợp “người con đi hoang”, rất lầm lỗi. Và, Cha Nhân Hiền vẫn chờ đợi “người con đi hoang” trở về, để sẵn sàng tha thứ trong vui mừng. Mừng vui, vì người con yêu vốn đã chết đi, nay sống lại. Sống lại giữa Mùa Chay, gợi ý sám hối. Trình thuật hôm nay, không chỉ diễn tả một sám hối với những tiếc nuối và hận sầu. Nhưng, còn nói lên tình huống sám hối có đổi thay, ngay căn tính. Ngay trong phong cách ta hành xử và nhìn về Đức Chúa, về con người. Về sự vật. Và, trình thuật kêu mời mọi người tái sắp xếp tương quan trong hành xử với Đức Chúa. Với mọi người. Với chính mình. Đổi thay - sắp xếp, mang tính triệt để, rất căn tính. Đem đến những hoán cải cả đời người. Nhiều người những tưởng rằng: cứ ăn năn hối lỗi theo chiều hướng trang nghiêm, trầm lặng của Mùa Chay, là đã đủ. Nhưng suy cho kỹ, ta thấy: ăn năn hối lỗi vào Mùa Chay không chỉ gồm mỗi cởi bỏ những sai sót trong quá khứ và có những quyết tâm trong lai thời, mà thôi. Nhưng, còn phải chú tâm vào hiện tại đượm thắm tình người nữa. Chẳng cần tranh cãi, đọc Tin Mừng về “nguời con đi hoang”, ta sẽ thấy lối hành xử đầy nhức nhối của người con thứ, rất sa đà. Bức xúc. Với người Do thái thời Đức Kitô, đó là tình huống ghê tởm. Hoang dại. Tình huống, nói lên một đối chọi giữa tính Nhân Hiền của Cha và sự bê tha của người con thứ sa đà. Xuống cấp. Tin Mừng về “người con đi hoang”, còn đề cập đến tính cách sa đà đáng sợ của các người con “đã tìm thấy chính mình rồi đánh mất”. Là con của Cha Nhân Hiền, ta cứ hết “lầm lỗi rồi lại lãng quên”. Quên xong, rồi lại sám hối. Lầm lỗi - lãng quên – sám hối, biến thành vòng quay tít mù, cả đời người.Trình thuật “người con lầm lỗi và lãng quên” cũng nói lên tính Nhân hiền của Cha. Cha Nhân Hiền chẳng bận tâm gì đến lãng quên, của đàn con khi đã biết sám hối. Biết đổi thay. Cha chỉ quan tâm đến thái độ sám hối cùng đổi mới của đàn con trên đời. Nói cách khác, Cha quan tâm đến thái độ hồi hướng trở về của đàn con biết sám hối. Tức, đã biết “thay tên lầm lỗi, lãng quên” bằng đổi mới. Cha Nhân Hiền không trách móc đàn con của Cha đã lầm lỡ và sai sót. Nhưng, Cha vẫn đứng nơi cửa, mong mỏi từng giờ, chờ đón ngày con hồi hướng, trở về. Rồi, khi con trở về, Cha vẫn không hạch sách, gạn hỏi. Nhưng, rất kiên nhẫn. Rất mừng rỡ, khi thấy bóng dáng con nơi đầu ngõ, Cha chạy đến giang tay đón nhận con nay trở về. Con trở về, không do uy lực bên ngoài thôi thúc. Không còn sự hiện diện của ác thần sự dữ, làm chứng nhân. Con trở về, Cha chẳng cần hối thúc gia nhân lùng tìm, hoặc cưỡng bức. Nhưng, Cha vẫn trông chờ nơi con, một quyết định. Quyết khởi đầu hành trình hồi hướng, với những đổi mới trong tin-yêu, hoan lạc.Phần Cha, khi nhìn con hồi hướng trở về, Cha chạy vội về phía trước đón con vào vòng tay ôm, đang chờ sẵn. Cha không lên lớp. Chẳng rầy la. Chỉ truyền cho gia nhân bưng mang đồ quý, đến mừng với Cha. Mừng cho tình yêu đã chết, nay quay về. Rồi từ đó, tình Cha được tiếp nối bằng nhiều tha thứ. Tha thứ rất chân tình. Chân tình, nhưng không cao ngạo như những người-tưởng-rằng-mình-đã-sống-tử-tế. Sống đúng tư cách bậc kẻ cả, rất đàn anh. Của những kẻ tự hào là người tử tế. Chính vì thế, kẻ đàn anh vẫn không đon đả chào mừng người em thân yêu nay quay đầu hồi thướng. Không đon đả, vì anh còn giận dữ. Còn ghen tương, hờn giận. Người anh-tử-tế nhưng vẫn không tỏ dấu đon đả chào đón. Không đón chào, vì anh vẫn không thừa nhận phong cách tử tế dành cho những kẻ xấu, dù là em. Với anh, không thể tỏ bày sự tử tế với những người đã một lần sa đà, phóng đãng.Chính điều này đã phản chống tính nhân hiền đầy lòng thứ tha của Cha. Bản tính của Cha Nhân Hiền vẫn là thế. Vẫn yêu thương hết mực. Vẫn thứ tha hết lòng. Yêu thương – tha thứ, đã trở thành đặc thù của Cha, ngay từ đầu. Làm Cha, tức đã nhân hiền đầy nghĩa yêu thương, với tha thứ.Thành thử, như đã nói: Cha chẳng quan tâm đến quá khứ lẫn vị lai, của mọi người con. Chí ít, người đó lại là con. Cha chú trọng nhiều đến tương quan giữa các con với Thiên Chúa. Ở đây. Và bây giờ. Tương quan yêu thương – tha thứ là tương quan rất mực giữa đàn con với Đức Chúa là Cha Nhân Hiền. Tương quan ấy không là biểu đồ dẫn chứng rằng mình từng hãm mình, phạt xác vào Mùa Chay. Tương quan ấy cũng không dựa trên biểu đồ chứng thực rằng mình là người công chính tốt bụng từng đọc kinh, xưng tội nhiều lần, đếm không hết. Tương quan rất mực với Cha Nhân Hiền, chỉ có thể minh xác qua các kinh nghiệm thứ tha, tỏ bày với những người em, người con từng lầm lỗi. Cả với người xa lạ, ngoài Đạo. Tương quan yêu thương – hoà giải, là tương quan biết thứ tha hài hoà với những người từng khổ đau, gặp nhiều xung đột nơi cuộc đời. Ở trần thế.Trình thuật hôm nay, không chỉ đề cao tương quan nhân hiền biết yêu thương - tha thứ đón nhận người em, người con đã đi hoang nay trở về với vòng tay ôm của Đức Chúa. Nhưng, còn là thách thức gửi đến người nghe: hãy biết bảo vệ quyền lợi của kẻ bơ vơ, bị người đời ruồng bỏ. Biết bảo vệ, kẻ lầm lỗi công khai, ở ngoài đời. Biết bảo vệ, người “lầm lỗi thay tên bằng quên lãng”, đã thua cuộc. Những người loanh quanh đâu đó, kiếm tìm bàn tay đỡ nâng từ người anh, người chị, ở khắp nơi. Có tương quan yêu thương – tha thứ là bảo vệ cả những người “đã tìm thấy chính mình, rồi đánh mất”. Những người từng “lầm lỗi thay tên bằng lãng quên”. Người chiến bại trong phấn đấu, chống sự dữ ác thần, mùa Sám hối.Sám hối Mùa Chay, không chỉ xảy ra nơi tiệc thánh, mỗi tuần. “Sám hối Mùa Chay”, là biết mở rộng vòng tay ôm vồn vã, với tất cả mọi người, từ người nghèo hèn tật bệnh, cho chí những người khổ đau, cô đơn. Sám hối Mùa Chay, là biết mở rộng vòng tay, để sống đời đổi mới, mà ý hướng dụ ngôn “người con đi hoang” hôm nay đã đề nghị.Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao Tin Mừng giúp ta quyết định, phải sám hối. Quyết sám hối đổi thay, mà “chẳng cần cúi mặt”. Nhất định giùm giúp, đỡ nâng từng người “thay tên lầm lỗi bằng lãng quên”. Cầu và mong sao ta tìm lại được chính mình, dù đã nhiều lần để mất. Mất tự tin. Mất hy vọng vào Cha Nhân Hiền, Đấng hằng tựa cửa ngóng chờ ngày ta hồi hướng, trở về.Trong ngóng đợi ngày “N” ấy, ta tiếp tục hân hoan mong ngóng hết mọi người, từ xa lạ đến thân quen. Hân hoan, để rồi ta sẽ cùng hát lên lời ca đầy phấn chấn, rằng: Hy vọng đã vươn lên trên bàn tay trên mặt màyHy vọng đã vươn lên trong tim người không bối rốiHy vọng đã vươn lên chân nhịp nhàng còn đi tớiHy vọng đã vươn dậy trong lòng anhTrong lòng tơiTrong lòng đi. (Nguyễn Đức Quang – Hy vọng đã vươn lên)Vâng. Mùa Chay là mùa sám hối, nhưng vẫn hy vọng. Hy vọng vào một đổi mới. Đổi mới để tìm lại chính mình. Tìm được tình Cha Nhân HIền đang trông ngóng đàn con hồi hướng trở về, trong yêu thương. Trong tha thứ. Tha thứ, cho những “lầm lỗi thay tên bằng quên lãng”.

Lm Chân Tín, CSsR: Lễ áo đen

Lm Chân Tín, CSsR: Lễ áo đen
@page Section1 {size: 595.3pt 841.9pt; margin: 42.55pt 42.55pt 42.55pt 42.55pt; mso-header-margin: 35.45pt; mso-footer-margin: 35.45pt; mso-paper-source: 0; }
P.MsoNormal {
FONT-SIZE: 12pt; MARGIN: 0cm 0cm 0pt; FONT-FAMILY: "Times New Roman"; mso-style-parent: ""; mso-pagination: widow-orphan; mso-fareast-font-family: "Times New Roman"
}
LI.MsoNormal {
FONT-SIZE: 12pt; MARGIN: 0cm 0cm 0pt; FONT-FAMILY: "Times New Roman"; mso-style-parent: ""; mso-pagination: widow-orphan; mso-fareast-font-family: "Times New Roman"
}
DIV.MsoNormal {
FONT-SIZE: 12pt; MARGIN: 0cm 0cm 0pt; FONT-FAMILY: "Times New Roman"; mso-style-parent: ""; mso-pagination: widow-orphan; mso-fareast-font-family: "Times New Roman"
}
A:link {
COLOR: blue; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single
}
SPAN.MsoHyperlink {
COLOR: blue; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single
}
A:visited {
COLOR: purple; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single
}
SPAN.MsoHyperlinkFollowed {
COLOR: purple; TEXT-DECORATION: underline; text-underline: single
}
DIV.Section1 {
page: Section1
}
Lễ Phục sinh lại trở về với chúng ta. Toàn thể Giáo hội hân hoan mừng Chúa Kitô sống lại vinh hiển. Phục Sinh là trung tâm đời sống Công giáo đúng như lời thánh Phaolô: “Nếu Chúa Kitô không sống lại, thì đức tin ta không ích gì.” Đạo Công giáo đã được xây trên sự sống lại của Chúa Giêsu. Vì thế, đặc điểm của đạo Công giáo là sự hoan lạc, hoan lạc của Phục Sinh, hoan lạc của ngày giải phóng. Tất cả phụng vụ Công giáo là một lễ Phục Sinh kéo dài và mỗi thánh lễ là một buổi họp hân hoan của toàn thể gia đình con cái Chúa quanh bàn thờ, để cảm tạ Chúa Cha bằng lễ vật Chúa Kitô đã sống lại, khởi thắng sự chết. Cảm tạ Chúa Cha trong niềm hân hoan, vì nhờ cuộc Phục Sinh khải hoàn đó, tất cả chúng ta cũng được băng qua sự chết của tội lỗi để bước vào nước hằng sống của Tình Thương vô biên. Vì thế, mỗi thánh lễ phải là một buổi tiệc thánh đầy hân hoan của toàn thể gia đình con cái Chúa: Đạo Công giáo là đạo của hoan lạc chứ không phải của tang tóc, của sự sống chứ không phải của sự chết.
Thế nhưng, trong Giáo hội ngày nay cách riêng ở Việt Nam, có một thực hành trong Phụng vụ hình như đi ngược lại chiều hân hoan và sống lại của đạo Chúa. Vào các nhà thờ của chúng ta, bất cứ ở thôn quê hay thành thị lại nhiều hơn nữa, ai cũng phải nhận xét điều này: lễ phục áo đen cứ trở lui trở tới hoài, các bàn mồ cứ tiếp tục án ngữ trước cung thánh và các lễ hát chiếm tỷ số cao nhất trong tuần là lễ mồ. Tự nhiên đứng trước màu đen, một màu đen trên đó còn dặm thêm những giọt nước mắt trắng to tướng, một màu đen có khi trùm kín cả cung thánh, rồi cả nhà thờ, ai mà chả nghĩ đến tang tóc. Thế là một cảm tưởng tang tóc đè nặng chình chịch lên bầu không khí thánh đường từ ngày này sang ngày khác. Và tín hữu đi dự thánh lễ cứ phải sống hoài trong bầu không khí ấy, đang khi thánh lễ, như chúng ta vừa thấy ở trên là một bàn tiệc hân hoan, một cuộc họp mặt vui mừng quanh Chiên Thánh phục sinh, một hương vị nếm trước Nước Trời. Thánh lễ là sự chiến thắng của Chúa Kitô trên chính sự chết.
Xin lễ cho những kẻ qua đời, để rút ngắn thời gian tẩy luyện và giúp họ chóng hưởng hạnh phúc toàn vẹn của tình yêu Chúa, là một việc đẹp lòng CHúa, được Giáo hội khuyến khích và hợp với đạo hiếu của người Việt. Nhưng ta nên nhớ điều này: giá trị một thánh lễ áp dụng cho người chết, không nhất thiết hệ tại ở việc phải làm một lễ áo đen. Làm lễ theo niên lịch Giáo hội có ý cầu cho kẻ qua đời cũng có giá trị y như một lễ áo đen.
Nếu quanh năm, lễ áo đen cứ trở đi trở lại hoài không những gieo tang tóc ảm đạm suốt ngày này qua ngày khác nhưng còn ngăn trở tín hữu sống phụng vụ theo niên lịch Giáo hội trong tinh thần Phục sinh. Năm Phụng vụ là một chu kỳ tuần tự diễn tiến, có mục đích theo tứ thời bát tiết giáo huấn và tác thánh chúng ta, đưa chúng ta lần hồi đi sâu vào nhiệm mầu Chúa Kitô và nhiệm Thể của Người. Đời sống nội tâm của chúng ta phải được mật thiết ăn khớp với năm Phụng vụ. Nhờ cuộc suy ngắm tuần tự đó, chúng ta hành trình bước theo các giai đoạn đời sống Chúa Kitô và Giáo hội ngõ hầu tiếp nhận ơn thánh qua Phụng vụ và xây dựng Nhiệm Thể của Chúa Kitô.
Tất cả những cái đó bị sụp đổ hết, chỉ vì không hiểu giá trị của thánh lễ bất cứ màu áo nào, nên đã muốn xin cho được lễ áo đen để bố thí cho người chết, còn mặc kệ cả cộng đoàn tín hữu đang sống ngoài Phụng vụ không được giáo huấn và tác thánh theo tinh thần hân hoan của Phục Sinh. Đó là chưa nói đến một lễ nghi thiếu thực chất: xông hương và rày nước thánh trên bàn mồ không xác.
Nhiều giáo hữu kêu ca phàn nàn, khi một vài nơi các linh mục hiểu biết nhu cầu thiêng liêng của người còn sống muốn làm lễ cho kẻ qua đời theo niên lịch Phụng vụ.
Họ đòi cho đuợc lễ áo đen và lễ nghi xông hương bàn mồ cho ra vẻ long trọng!
Trong tinh thần cải tân đời sống Công giáo của Công đồng Vatican, chúng tôi mong tín hữu ý thức hơn tính cách hân hoan của Đạo Chúa, đừng còn muốn biến tiệc thánh hoan lạc ra nghĩa địa buồn thảm. Và chúng tôi cũng tha thiết xin hàng giáo phẩm xét lại vấn đề lễ áo đen, đúng với tinh thần Phụng vụ. Một cách thực tế, chúng tôi xin đề nghị chỉ dùng áo đen trong lễ đám tang và chỉ xông hương rảy nước thánh cho xác tín hữu. Ngoài ra, như lễ giáp năm, giáp tháng, vv.. phải làm lễ theo niên lịch phụng vụ và bỏ hẳn nghi lễ xông hương và rảy nước thánh cho bàn mồ không xác người chết. Như thế, những linh hồn qua đời không phải thiệt thòi, mà kẻ còn sống cũng được giáo huấn và tác thánh qua tất cả giai đoạn đời sống Chúa Kitô và Giáo hội của Người.
Mong rằng rồi đây hàng giáo phẩm sẽ mạnh dạn cải tân Phụng vụ và trả lại cho thánh lễ bầu không khí hân hoan của Chúa Kitô Phục Sinh đã chiến thắng sự chết: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dù có chết cũng sẽ sống và hễ ai sống và tin Ta thì sẽ không phải chết đời đời.”
Lm Chân Tín
4/1963
Xem thêm các bài cùng một dạng, xin mời vào:
www.suyniemloingai.blogspot.com
www.chuyenphiemdaodoi.blogspot )

Bí thư Thành ủy Đà Nẵng ép Cha xứ Cồn Dầu giảng ép dân ký giấy đồng ý giải tỏa

Bí thư Thành ủy Đà Nẵng ép Cha xứ Cồn Dầu giảng ép dân ký giấy đồng ý giải tỏa
VietCatholic News (10 Mar 2010 10:43)

ĐÀ NẴNG - Tin từ Cồn Dầu cho hay, hôm qua, thứ ba ngày 9 tháng 3, 2010, ông Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh, cùng một số thuộc hạ và công an, đã đến nhà xứ Cồn Dầu gặp Linh Mục Chánh Xứ Cồn Dầu Emmanuel Nguyễn Tấn Lục hơn 2 tiếng đồng hồ, từ 2 giờ đến 4 giờ chiều. Trong cuộc gặp gỡ này, ông Nguyễn Bá Thanh đã yêu cầu Cha Nguyễn Tấn Lục giảng trong nhà thờ khuyên giáo dân Cồn Dầu ký giấy đồng ý giải tỏa để chính quyền chuẩn bị giao đất cho các nhà đầu tư. Cha Lục đã khẳng định Ngài chỉ có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa trong Thánh Lễ cũng như khuyên bảo giáo dân ăn ngay ở lành. Việc mua bán đất đai là việc giữa hai đối tác, thuận mua vừa bán, ở đây là giữa chính quyền và nhân dân, không phải trách nhiệm mục vụ của Ngài. Cuộc họp đã trở thành một cuộc tranh luận to tiếng khi ông Thanh tiếp tục áp lực Cha Lục phải lên tiếng với giáo dân và Cha Lục đã từ chối. Một số giáo dân ở gần nhà thờ nghe lớn tiếng đã chạy đến nhà xứ, vào nói với ông Thanh, đây không phải là việc của Cha Xứ, nếu muốn nói chuyện mua bán,giải tỏa thì hãy nói với dân, đừng làm phiền Cha Xứ chúng tôi nữa. Ông Thanh cũng lớn tiếng tuyên bố rằng tháng tư này, ông sẽ cho hàng ngàn xe ủi đất đến san bằng ruộng vườn và lấp cánh đồng Cồn Dầu cho dù dân có đồng ý hay không.Ông khẳng định, đất đai là của nhà nước, nhân dân chỉ là người xử dụng, khi cần thì nhà nước có quyền đòi lại để xây dựng phát triển.Trong những ngày vừa qua, cán bộ và công an vẫn tiếp tục lung sục từng hộ của tổ dân phố 20, rình rập để gặp cho được chủ hộ để bắt họ phải ký giấy cho kiểm định. Để tránh gặp cán bộ, họ phải trốn lánh đi nơi khác. Nhà nào cũng bị dán nhiều giấy cảnh báo “Cố ý vắng mặt chống chủ trương quy hoạch của thành phố”. Cho đến hôm nay, dù gặp áp lực tứ bề, đã không có thêm một người dân nào chịu ký giấy cho kiểm định.
Song Ngọc

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất

Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất và xây dựng quan điểm lãnh đạo
Văn thư lưu trữ mở Wikisource
Nhiều nhiều người trong dân lang tôi đã bị giết!!!!
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), năm 23 tuổi đă đậu hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa ở Đại học Montpellier, Pháp. Sau khi về nước, ông dạy học tại trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat). Bất mãn vì chính sách kỳ thị của Pháp, ông bỏ nghề dạy ra mở văn phòng luật sư. Năm 1946, ông tham dự Hội nghị Việt-Pháp tại Đà-lạt nhưng không được cử đi dự Hội nghị Fontainebleau. Ông theo chính phủ Hồ Chí Minh kháng chiến chống Pháp tới ngày ký Hiệp định Genève 1954 thì trở về Hà Nội dạy học ở trường Đại Học Văn Khoa. Sau 1954 ông giữ các chức vụ Trưởng khoa Đại học Luật Hà Nội, Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Đoàn Luật sư, Phó Trưởng khoa Đại học Sư phạm Hà Nội; thành viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Hội Hữu nghị Việt-Pháp, Hội Hữu nghị Việt-Xô và Ủy ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới, sáng lập viên Câu lạc bộ Đoàn Kết, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên viên nghiên cứu giáo dục. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự hội nghị đàm phán ở Đà Lạt, dự các hội nghị hoà bình thế giới ở Bắc Kinh và Wien.
Sau khi Trung ương Đảng CSVN hạ lệnh chấm dứt chiến dịch Cải cách ruộng đất ngày 20 tháng 7 năm 1956 và sau đó ban hành các biện pháp sửa sai, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc , L.S. Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn này trong một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, ngày 30 tháng Mười năm 1956. Vì bài diễn văn này, ông Tường bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống một cuộc đời vô cùng thiếu thốn, bị cô lập đến cuối đời và mất năm 1996, thọ 87 tuổi.
Thưa các quí vị,
Hội nghị Mặt trận Trung ương họp để nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chính sách sửa chữa sai lầm ấy. Hôm nay tôi được đúc kết trước toàn thể Hội nghị các ý kiến mà trong mười ngày vừa qua tôi đã trình bày trong tổ thảo luận, với tinh thần thận trọng của người trí thức không bao giờ quên trách nhiệm của mình trước nhân dân và lịch sử nước nhà.
Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao Động do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được? Nếu chúng ta duy tâm và tin rằng linh hồn còn tồn tại thì một phần nào ta chuộc lại được tội lỗi của ta. Nhưng ta duy vật và các người ấy lúc chết cũng là duy vật. Do đó, cái nỗi khổ cực của họ ta biết rõ rằng bây giờ ta không thể nào thủ tiêu được nữa. Quyền hạn của ta không tới đó. Nhưng cái gì ta có thể làm được, ta cần làm, để như là đền bù một phần nào sự tổn thiệt của các người ấy, và chứng minh ta thấm thía nỗi đau khổ của họ khi họ từ trần là ta cương quyết rút bài học kinh nghiệm đau đớn và sửa chữa các sai lầm nghiêm trọng mà họ là nạn nhân.
Với tinh thần của một người trong quần chúng, của một người công dân đau khổ trước bao nhiêu cái chết oan của người vô tội, tôi xin phép trình bày mấy ý kiến xây dựng. Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, nhưng theo ý tôi các sai lầm này chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những thiếu sót trong sự lãnh đạo của Đảng Lao Động. Do đó tôi xin được góp ý kiến xây dựng quan điểm lãnh đạo của Đảng Lao Động.
Tại sao tôi lại tin như vậy? Là vì, không những trong Cải cách Ruộng đất chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết thê thảm. Do đó, nếu chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không thể rút được bài học kinh nghiệm, chúng ta sẽ khiếm khuyết với sự tín nhiệm của tất cả các đảng viên Đảng Lao Động, với sự mong đợi của toàn dân. Chúng ta phải kiên quyết không cho các sai lầm ấy tái diễn và tác hại nữa. Đó là nhiệm vụ tối thiểu của chúng ta đối với các người đã chết oan.
Tình hình nước ta hiện thời ra sao? Tình hình ấy có bi quan không? Đó là vấn đề nhận định thôi. Nhưng cái chủ yếu là ta không nhìn tình hình ây với con mắt bi quan. Vậy sự thật khách quan như thế nào? Nhìn vào nông thôn, ta thấy hiện thời tình trạng thiếu đoàn kết rất phổ biến. Vì thi hành sai chính sách cải cách, ta đối lập các từng lớp trong giai cấp nông dân, cán bộ cũ và mới, chi bộ cũ và mới của Đảng. Trong khi đập tan giai cấp địa chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt. Ta chỉ cần đọc lại các bài giáo huấn cho đồng bào nông thôn trong báo Nhân Dân là ta đủ hiểu mặt mũi nông thôn hiện giờ ra sao. Nhìn vào các công xưởng, công trường, ta thấy gì? Cứ đọc báo Nhân Dân thôi, ta thấy Chính phủ gửi các phái đoàn đi thăm các anh chị em công nhân, ủy lạo họ, bắt buộc thi hành quy chế lao động mà Chính phủ đã ban ra. Nghĩa là thế nào? Nghĩa là giai cấp công nhân đã phải lao động sản xuất hai năm nay mà không được bồi dưỡng đúng mức. Lắng nghe dư luạân đồng bào Hà Nội thôi, ta được biết rằng có it ra một doanh nghiệp quốc gia lãng phí bao nhiêu triệu trong khi dưới chế độ Pháp thuộc, cũng doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc các số lãi khổng lồ.
Về Mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình, nào đưa ra thị trường sữa hư mà không bao giờ nghĩ đến tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ sinh, nào tung ra bơ hỏng, thuốc lá mốc, phạm đến sức khỏe của nhân dân, nào bất lực trước hiện tượng vật giá ngày càng lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình ổn nó. Có thể nói được, suốt ngày đêm không đâu là không có lời oán trách Mậu dịch.
Về hộ khẩu thì cán bộ tỏ vẻ không phải là nhằm duy trì trật tự an ninh, phá vỡ cơ sở của địch, trái lại quấy nhiễu nhân dân, tạo ra một đời sống thành thị điêu đứng cho tất cả. Nếu các vị cần những dẫn chứng cụ thể, tôi chỉ xin nhắc lại hồ sơ mênh mông, thu lượm các thắc mắc cay đắng của đồng bào Thủ đô trong Đại hội lần thứ ba của nhân dân Hà Nội vừa họp cách đây hai tháng.
Nói về chính sách khôi phục kinh tế, ta thấy gì? Số vốn mà các nhà công thương mang ra kinh doanh chỉ là một phần ti tiểu, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý gì. Trái lại ta thấy tất cả một phong trào các nhà tư bản thu hẹp hoạt động của họ, hoặc “chuyển hướng” bằng cách đâm ra quay chỉ, bán nước mía, hay dệt vài thước vải vớ vẩn, hoặc đóng cửa ăn vào vốn để khỏi đụng chạm đến Sở Lao động vì vấn đề công nhân, với Sở Công thương vì vấn đề đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với Sở Tài chính vì thuế khoá đặc biệt. Thuế bổ xung đã đưa bao nhiêu người đến chỗ phá sản, có kẻ đến chỗ tự sát. Các người tiểu thương buôn thúng bán mẹt, đẩy chiếc xe hàng tiều tụy trong phố, cũng “được” nộp thuế, cũng như các người suốt ngày làm việc ở công sở hay công xưởng, tối về thức đêm dệt vài thước kiếm thêm tiền độ thân. Hàng trăm, hàng nghìn công chức cũ về hưu, với gia đình của họ, trước đây sống bằng lương hưu trí, hai năm nay không được ai chiếu cố đến, chết dần chết mòn, có người đâm đầu xuống sông tự tử, có người hai lần uống độc dược để quyên sinh.
Còn như các cán bộ thì ta có cần nói đến không? Ta cứ trông mặt mũi, quần áo họ, ta chỉ cần hỏi con số những người qua các phòng khám bệnh, các bệnh viện, ta liếc mắt nhìn họ ăn uống những gì trong bữa cơm, là ta đủ hiểu khổ cực của họ.
Ta quên thế nào được các đồng bào tập kết ra ngoài Bắc, số phận con cái họ ở Hà Nội, Hải Phòng, số phận chính của họ bi đát quá nỗi! Khổ cực nhất cho các anh chị em là không nương tưa đuợc vào một đời sống gia đình đề khuây khỏa trong lúc thảm sầu.
Các hiện tượng trên đây có đúng không, tôi chỉ yêu cầu các vị đọc báo Nhân Dân, nghiên cứu các hồ sơ chồng chất lên ở Mặt trận Thành Hà Nội sau Đại hội lần thứ 3 vừa rồi, nghe ngóng lời than phiền của quần chúng, nhìn nhận các quang cảnh diễn ra dưới mắt của các vị là các vị đủ hiểu rồi. Quả thực như ông Trường Chinh đã tuyên bố, uy tín của chính phủ, của Đảng bị tổn thiệt rất nhiều. Thế tại sao đồng bào chúng ta lại khổ cực? Phải chăng vì cán bộ của chúng ta non, hẹp hòi, chưa thấm nhuần lý luận cách mạng, không tôn trọng giá trị của con người, các nhu cầu và đòi hỏi chính đáng của nó? Phải chăng vì ta đang mắc trầm trọng bệnh ấu trĩ của cách mạng? Các điều đó là có, ta không hề chối và ta cũng không thể chối cãi được. Nhưng nhận định như vậy vẫn còn hời hợt . Ta phải đi sâu hơn nữa. Khi trong Cải cách Ruộng đất của ta, ta thấy bao nhiêu người bị tù tội, bị giết oan, trong đó bao nhiêu người dân ưu tú đã từng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng, khi hiện thời ở nông thôn vẫn có người bị đánh đập, ngược đãi, khi ta không xây dựng được đoàn kết giữa các đồng bào, thì ta phải nhận định rằng các sai lầm ta đã mắc trong cuộc Cải cách Ruộng đất này chỉ là những biểu hiệu cực độ của các sai lầm ta đã phạm, và các sai lầm ấy nêu lên, như tôi trình bày trên đây, một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo của Đảng Lao Động.
Do đó, tôi yêu cầu các vị cho phép tôi bắt đầu nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách đã rồi sau khi truy nguyên các sai lầm ấy, đề đạt mấy ý kiến về vấn đề lãnh đạo.

//
[sửa] I. Vấn đề Pháp lý trong Cải cách Ruộng đất
Ta đã sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách Ruộng đất, ta có thể tránh được sai lầm ấy mà vẫn bảo đảm được đường lối căn bản của cách mạng không? Tôi giả nhời cương quyết rằng có.
Đường lối cách mạng của ta đòi hỏi gì? Ruộng phải trở về người cày. Điều này rất đúng không ai có thể chối cãi được. Nông dân là đại đa số trong nhân dân, nông dân là quân đội chủ lực của cách mạng, nhất định cách mạng không thể nào thành công được nếu ta không thỏa mãn nhu cầu thiết yếu và cấp bách của nông dân. Không cần phải là một nhà chính trị cao, một nhà cách mạng thạo, cũng nhận thấy điều ấy. Chỉ cần nhìn lịch sử cách mạng từ thời kỳ cổ đại đến giờ là đủ hiểu rồi.
Như vậy về nguyên tắc, ta tán thành chủ trương Cải cách Ruộng đất.
Về phương pháp, ta có nên ban ơn cho nông dân không? Nhất định là không. Nông dân ta trong bao nghìn năm đã khổ cực dưới chế độ bóc lột phong kiến và một trăm năm nay dưới chế độ bóc lột thực dân. Đồng bào nông thôn ta lầm than như vậy, đã mất hết khí thế con người. Ta cần khôi phục khí thế của người nông dân, xây dựng cho họ tinh thần chủ nhân ông trên đất nước. Do đó ta thấy cần thiết phải phát động tư tưởng của họ để họ nhận được phân minh kẻ thù của họ, để họ vùng giậy nắm lấy quyền thế ở nông thôn.
Nhưng từ đây trở đi, ta thấy khởi phát các sai lầm. Sai lầm này, ông Trường Chinh đã nhận thấy là ở chỗ: ta quên hẳn ta hiện thời nắm chính quyền và chính quyền ấy, nếu ta biết sử dụng nó, khai thác nó một cách sáng suốt, nhất định ta vẫn thành công nhưng ta tránh được bao tai họa làm ta đau khổ hiện thời.
Con đường ông Trường Chinh đã đi để tiến tới kết luận ấy là con đường chính trị. Các anh em tôi là những nhà luật học, chỉ là nhà chuyên môn và lý luận trên cơ sở chuyên môn thôi, đã trông thấy kết luận ấy ngay từ khi chính sách phát động và Cải cách được đề ra. Tại sao? Vì giải pháp chính quyền cụ thể là giải pháp pháp lý, đảm bảo thắng lợi hoàn toàn của cách mạng nếu ta biết mang nó ra phục vụ chính trị và cách mạng.
Ta muốn gì ? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách mạng để tiêu diệt nó. Nhưng đồng thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên rằng công lý của cách mạng, muốn bảo toàn được uy tín và thắng lợi của cách mạng, phải biết đánh đúng địch. Khi đưa ra khẩu hiệu “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch” thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác nữa. Muốn chứng minh điều này ta chỉ cần nhìn thực tế : kết quả sai lầm ta đã phạm khi thực hiện khẩu hiệu này rất tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho bản thân bao nhiêu chiến sĩ cách mạng. Nếu không phải đó là phản lại cách mạng thì là gì ?
Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: “Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan.” Thế ta có lo ngại rằng 10 địch sót không ? Không, vì ta nắm chính quyền, vì cách mạng ta đã thành công. Như vậy kẻ thù của cách mạng chẳng sớm thì chậm, nhất định hoặc cải thiện, giác ngộ, hoặc lọt vào lưới của ta. Khẩu hiệu này lợi ở chỗ : không một người oan nào bị kết án. Do đó, không có các kết quả cực kỳ tai hại diễn ra hiện thời.
Làm thế nào thực hiện được khẩu hiệu ấy ? Kinh nghiệm pháp lý của hàng nghìn năm lịch sử thế giới cho ta biết rằng ta có phương pháp để tìm đúng địch mà đánh, không đánh tràn lan, không đánh người vô tội. Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây các nguyên tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt mục đích ấy.
Một nguyên tắc đầu tiên là không hình phạt các tội đã phạm quá lâu rồi mà bây giờ mới khám phá ra. Tại sao ? Vì rằng vấn đề bằng chứng khó giải quyết được. tang vật đã mất, nhân chứng có người đã từ trần, có người không nhớ rõ các sự việc họ đã mục kích. Hơn nữa, sở dĩ hình luật phạt các tội, là vì các tội ấy đã xâm phạm vào trật tự xã hội: tác hại cho nạn nhân và gây tác dụng xấu trong quần chúng. Nhưng khi tội đã phạm quá lâu, trật tự xã hội hết bị xâm phạm rồi, nạn nhân không còn đau khổ, tác dụng xấu của tội cũng hết, thời gian đã hàn gắn các vết thương. Bây giờ lại vạch chuyện cũ thì không những khó thu thập được bằng chứng kết tội mà lại gây một sự náo động trong xã hội không cần thiết. Chính xã hội thấy “quên” lợi hơn là “nhớ”.
Một nguyên tắc thứ hai là trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân phải chịu, không có trách nhiệm chung của vợ con, của gia đình. Nêu trách nhiệm truớc hình luật của các người “có quan hệ” với phạm nhân không những là bất công mà lại còn gây các sự rung động vô ích trong xã hội. Hơn 400 năm nay không một nước Tây phương nào làm việc đó nữa. Trách nhiệm trước hình luật chỉ là một trách nhiệm cá nhân mà thôi. Không những thế, về phương diện nhân đạo, thì các phạm nhân quá già được miễn nghị, miễn tố và các vị thành niên được chiếu cố.
Môt nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Phải có nhân chứng là những kẻ đã mục kích sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ ràng, chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ, ít ra cũng phải có hai nhân chứng cung khai phù hợp với nhau mới được coi là đáng kể. Cung khai của các nhân chứng phải ăn khớp với nhau và trong quá trình phạm pháp các tang vật thu được phải có tác dụng hợp lý, sát hợp với kết quả do cuộc điêù tra mang lại.
Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu điều kiện nhờ luật sư, khi nào là một trọng tội, Tòa phải cử luật sư bào chữa không, cho bị can. Trong tất cả, giai đoạn điều tra ở trình độ công an thẩm vấn trong phòng dự thẩm, buộc tội trước tòa, quyền lợi của công tố viện ngang với quyền lợi bị can, nghĩa là nếu công tố viện đưa hết lý lẽ để buộc tội, bị can đua hết lý lẽ để minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa công tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán ngồi xét xử phải là vô tư, đứng giữa để theo rõi cuộc đấu lý diễn ra dưới mắt mình. Như thế mới nhận định đúng và xử công minh. Toà án xét xử không chịu lệnh của ai trong khi xét xử, chỉ biết xét xử theo lương tâm của mình và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi nghe hai tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người thẩm phán phải được đủ đảm bảo để làm nhiệm vụ của mình mà không sợ ai khiển trách hay gây khó khăn cho mình được. Khi điều tra thẩm vấn, tuyệt đối cấm không được dùng phương pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị can, mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn. Khi nào có điều nghi ngờ thì bị can được miễn nghị. Nếu bị kết án thì còn quyền chống án lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình thì lại còn quyền xin ân giảm trước vị Chủ tịch Chính phủ. Con người của bị can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử phải được tôn trọng triệt để, khi bị can ra trước tòa thì không được xiềng xích họ và không lúc nào được dùng nhục hình đối xử với họ.
Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì một người tác hại cho một người khác mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu trách nhiệm về phương diện dân sự, nghĩa là bồi thường thôi — của người đã tác hại. Muốn truy tố người ấy để thi hành hình luật đối với hắn thì phải chứng minh rằng hắn phạm một tội, nghĩa là phạm vào một điều khoản nào qui định trong hình luật, và hình luật không bao giờ có tác dụng đối với quá khứ cả: nếu hành động của một người diễn ra trong thời kỳ mà hình luật chưa quan niệm là một tội thì người ấy không thể mang ra truy tố được. Không những bị can phải phạm một tội đã qui định rồi trong pháp luật, mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc phạm tội ấy bị can có ý thức, có ý chí phạm pháp hay không, hay là vô tình mà phạm pháp. Sự đối xử trong hai trường hợp ấy khác nhau.
Lúc tôi nhắc lại các nguyên tắc này thì có vị cho rằng như thế là phiền phức, phức tạp. Dĩ nhiên rồi, nhưng tất cả vấn đề là: ta có muốn giết người vô tội không ? Nếu không thì không thể nào làm khác được. Hơn nữa, muốn nhận định vấn đề cho đúng, ta không nên đứng vào vị trí một người hiện thời không dây dưa với pháp luật, một người ở một cương vị chính quyền.Ta phải đứng vào cương vị của bị tố nhân; lúc ấy vấn đề rất sáng tỏ, không những ta đòi thi hành các nguyên tắc pháp luật, ta còn cố gắng tìm hiểu thêm các nguyên tắc mới để đảm bảo người oan khỏi bị chết.
Nếu mang ra áp dụng các nguyên tắc ấy vào cuộc Cải cách ruộng đất của ta, ta sẽ làm thế nào? Thủ tục cải cách cứ diễn bài nhưng sự trừng trị bọn cường hào gian ác hay phản động, ta sẽ không giao cho một tòa án nhân dân, đặc biệt như ta đã làm với tất cả sự thiếu sót về phương diện pháp lý mà ta đã biết. Trái lại, sau khi phát động tư tưởng của nông dân, ta sẽ nghe lời họ tố cáo kẻ thù của họ. Ta sẽ ủy nhiệm toà án nhân dân thường lập các hồ sơ, để tòa án, với bộ máy và kinh nghiệm của nó, tiếp tục điều tra, kiểm tra, lấy cung chứng, truy tố, luận tội, xét xử. Ta đảm bảo triệt để cho bị tố nhân quyền bào chữa của họ, ta yêu cầu các luật sư làm tròn nhiệm vụ của họ, ta tôn trọng triệt để con người của bị tố nhân. Ta chỉ thù ghét và kết án, trừng phạt tội của nó đã phạm thôi. Ta tin tưởng ở tòa án, ta đảm bảo cho các vị thẩm phán làm việc ngoài sự điều khiển của chính quyền, một cách biệt lập, tôi nói biệt lập chứ không phải độc lập, theo lương tâm của các vị và căn cứ vào hồ sơ và kết quả của cuộc thẩm vấn.
[sửa] II. Các nguyên nhân sai lầm
Theo như tôi nhận định, với chủ quan của tôi, các nguyên nhân sai lầm thuộc hai loại, có loại trực tiếp, nhưng nếu ta phân tích loại này thì ta sẽ đi tới một loại thứ hai mà theo tôi là những nguyên nhân chính, ta cần chú ý.
Các nguyên nhân trực tiếp ta trông thấy ngay. Sở dĩ mà khi nghiên cứu chính sách cải cách, ta không nghĩ đến giải pháp pháp lý đưa ra để điều hòa với giải pháp chính trị, phải chăng là vì ta không biết giải pháp pháp lý? Nếu không thì là sự thiếu sót nghiêm trọng của cấp lãnh đạo. Nhưng tôi tin rằng không phải như thế đâu. Sở dĩ ta không để ý đến giải pháp pháp lý là vì ba lý do:
1. Quan điểm ta-địch, thù-bạn của ta rất mơ hồ
2. Ta bất chấp pháp luật, lấy chính trị lấn át pháp lý
3. Ta bất chấp chuyên môn
Quan điểm bạn-thù, ta-địch mơ hồ — Các hiện tượng trên trường quốc tế và trong nước rất nhiều và rõ rệt.
Trên trường quốc tế, trong các nước dân chủ của ta thôi, ta thấy những điều làm ta suy nghĩ. Ta thấy chẳng hạn những người suốt đời hi sinh cho sự nghiệp cách mạng, giữ những trọng trách trong chính thể cách mạng, rồi bỗng nhiên phải truất quyền, khai trừ ra khỏi Đảng, tống giam, thậm chí có khi bị giết nữa. Rồi ít lâu sau, ta lại thấy các người ấy được khôi phục công quyền, đảng tịch, cương vị, người nào bị kết án tử hình rồi thì được an táng lại ở các đài kỷ niệm các liệt sĩ mà Tổ quốc ghi tên muôn đời.
Trong nước ta, qua cuộc Cải cách ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến (ở ngoại thành Hà Nội) bị kết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình. Ấy là không nói đến các người trong quần chúng bị hi sinh oan. Đối với các nạn nhân này, ta có thể một phần nào hiểu các sai lầm đã phạm, vì họ thiếu hay không có thành tích cách mạng hay kháng chiến. Nhưng đối với các đảng viên ưu tú, tinh hoa của dân tộc, lúc bị xử trí như ta đã biết, thì ta tự hỏi trong đầu óc của những người xử họ có cái gì mà ta gọi là lý tính không? Ngay một thường dân, không phải là một nhà chính trị hay văn hóa, chỉ sử dụng cái lẽ phải của mình thôi, cũng không thể nào hỗn hợp người xấu với kẻ tốt như vậy được. Ta phải đặt vấn đề rằng cán bộ từ trên xuống dưới, tham gia Cải cách ruộng đất, không phải là người điên cuồng, cũng không phải là người chủ mưu, dụng tâm phá hoại. Nếu như thế thì ta sẽ gửi họ đến bác sĩ chuyên môn chữa bệnh thần kinh, hay đến công tố viện của các tòa án. Nhưng không phải như thế, ta tin như vậy. Do đó, kết luận mà ta tiến tới, dù muốn hay không, là các các cán bộ ấy có một quan điểm rất mơ hồ về ta-thù, bạn-địch.
Còn gì đau đớn hơn là câu ta được nghe “ta đánh cả ta nữa”. Nếu như vậy thì ta cần phải nhận rằng ta không phân biệt được bạn và thù. Ta đọc lại các bài gần đây đăng trong báo Nhân Dân của các đồng chí bị xử trí oan, hoặc các đồng chín ấy nói, hoặc không nói, nhưng ta đều hiểu các đồng chí ấy nghi ngờ những người kết án các đồng chí, không phân biệt được bạn và thù. Vì vậy nên đánh cả bạn, giết cả bạn.
Tôi thấy đây là một điều cực kỳ quan trọng. Nguyên do ở đâu? Phải chăng ở một tinh thần cảnh giác quá cao đến nỗi mù quáng, ở một tả khuynh mà ta thường mắc trong giai đoạn ấu trĩ của cách mạng? Đây không phải là nơi và lúc mà ta cần phân tích sâu sắc điều ấy. Chủ yếu là ta nhận thấy rằng một nguyên nhân sai lầm là ở trong quan điểm thù bạn rất mơ hồ. Nếu ta không kịp sửa chữa sai lầm, xây dựng lại quan điểm thù bạn, một ngày kia ta sẽ lại phải khóc trên kỷ niệm của những vị có công nhất với cách mạng, với nhân dân. Ta cương quyết không thể nào để tình trạng ấy tái diễn ra được.
Bất chấp pháp luật — Giáo sư Ba-lan Mahelli nói chuyện ở Bộ Tư pháp, cho ta biết rằng bên Ba-lan, khi cách mạng thành công, các nhà chính trị bất chấp pháp luật. Họ quan niệm rằng họ đủ tài năng để đảm nhận các cương vị lãnh đạo trong ngành tư pháp, để bó buộc tư pháp phục vụ triệt để chính trị mà không đếm xỉa đến các nguyên tắc căn bản của pháp lý. Kết quả là chẳng bao lâu bộ máy tư pháp sộc sệch, không những không củng cố được chính thể cách mạng, ngược lại, tác hại quá nhiều gây bao nhiêu khó khăn cho chính quyền cách mạng. Sai lầm ấy đuợc uốn nắn kịp thời: hoàn cảnh khách quan đã dạy một bài học cho chủ quan các nhà chính trị, để lãnh đạo chuyên môn phải nhập trường học tập, trước non 2 năm, sau 5 năm, để qua pháp lý, phục vụ chính trị và cách mạng.
Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên. Trong giai đọan đầu tiên, chính trị say sưa với các thắng lợi đã thu —và dĩ nhiên các thắng lợi ấy vĩ đại— lâm vào tình trạng tự mãn và bao biện.
Nhưng quản trị một nước, đặc biệt một nước đang xây dựng chính quyền cách mạng, nghĩa là một cái gì vô cùng mới mẻ và khó khăn — không giống như là đề ra đường lối và khẩu hiệu tranh đấu cách mạng và vận động quần chúng làm cách mạng. Hai khu vực hoạt động ấy tuy quan hệ mật thiết với nhau, nhưng mỗi ngành hoạt động có kỹ thuật và quy luật của nó. Lúc nhà chính trị bao biện, bất chấp hoàn cảnh khách quan kinh nghiệm xương máu của lịch sử, thì chẳng sớm thì muộn ta thấy diễn ra những tai hại hiện thời làm chúng ta đau xót. Trên con đường bao biện và tự mãn ấy, các nhà chính trị đã bị thúc đẩy bởi những thành kiến đối với pháp lý và tin rằng pháp lý là cái gậy chỉ dùng để chọc bánh xe, không hiểu rằng, trái lại, chính pháp lý giúp xe khỏi lật, khỏi gây tai nạn. Nguy hại hơn là chính trị tự đặt mình lên trên pháp luật. Ngay trong trường hợp chính trị sau khi đặt mình lên trên pháp luật, còn giữ vững thái độ chân chính, cũng đã gây ra bao khó khăn rồi. Pháp luật chủ yếu đề ra những cái gì có thể làm được, cái gì không được phép làm, do đó nhân dân vững tâm biết rõ đường mà đi. Nhưng tâm hồn quần chúng chỉ được ổn định khi nào quần chúng biết rõ rằng cái gì bó buộc mình cũng đồng thời bó buộc nhà cầm quyền. Trái lại, khi pháp luật chỉ gò bó quần chúng mà không gò bó nhà cầm quyền thì nhà cầm quyền mỗi lúc có thể vẽ ra các đường mới mà quần chúng chưa từng biết. Vì vậy quần chúng hoang mang: cái gì hôm qua làm được, ngày mai với sự độc đoán của nhà cầm quyền có thể bị coi là phi pháp. Hoang mang ấy lên tới cực độ khi tác dụng của sự thay đổi thái độ này của nhà cầm quyền không những ảnh hưởng đến tương lai, mà là ảnh hưởng cả về quá khứ nữa. Đó là trường hợp nhà cầm quyền, lúc tự đặt mình lên trên pháp luật, giữ thái độ chân chính đúng mực, huống hồ là khi nhà cầm quyền xử dụng quyền thế của mình một cách lộng quyền, như ông Trường Chinh đã nhận định. Quyền xử tử người một cách đơn giản như vậy trái với luật pháp: đó chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi. Nếu mà các người xử dụng quyền ấy lại không xử dụng với tinh thần chính sách của lãnh đạo, xử dụng một cách lộng quyền thì kết quả thế nào, hiện thời ta đã trông thấy rõ.
Bất chấp chuyên môn — Các nhà chính trị bất chấp pháp luật. Nhưng nếu các vị ấy tranh thủ ý kiến của các nhà chuyên môn và cho phép các nhà chuyên môn đề đạt ý kiến thì các nhà chuyên môn cũng sẽ yêu cầu các nhà chính trị nên chú ý đến pháp luật, và dùng pháp luật phục vụ cách mạng.
Nhưng tiếc thay, trong 10 năm vừa qua, ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ “lập trường” làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu được dùng một hình ảnh “duy tâm”, tôi ví lập trường như cái oan hồn ngày đêm theo đuổi kẻ nào đã hãm hại người chủ của nó. Có một điều lạ, là các anh em công nông, các vị lãnh tụ không bao giờ nói đến lập trường trong sinh hoạt hàng ngày. Trái lại, các cán bộ và đảng viên tiểu tư sản không lo ngại gì bằng sự mất lập trường. Vì vậy, để nhớ đến nó, mở miệng ra là nêu lập trường rồi. Đó là tinh thần tự ti của một giai cấp mất khí thế, quên rằng mình đứng trong hàng ngũ cách mạng. Dù sao, ở Việt Nam chúng ta cũng đã xẩy ra những sự việc như sau đây, ta cần ghi nhớ để con cháu ta cười muôn thuở: khi chọn một người vặn lái ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái và đã vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi : “Có lập trường không?” Kết quả là từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà-nội, hàng trăm tai nạn xảy ra do các người vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào? Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp” (hiện tượng do B.S. Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra).
Tại sao có những hiện tượng quái gở như vậy? Là vì chính trị chiếm đóng tất cả các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu của con người, làm chúng ta khước từ các chân lý. Chân lý cho biết rằng chính trị không thể nào thay thế được cho chuyên môn, không làm được việc của chuyên môn. Nếu như vậy thì ít ra chính trị cũng hỏi ý của chuyên môn mới là phải. Nhưng không. Chính trị nghi ngờ chuyên môn, không tin ở chuyên môn. Lúc thì cho rằng chuyên môn là do văn hoá và khoa học tư sản đế quốc xây dựng, là vô dụng (đó là một sai lầm nghiêm trọng các người tin như vậy chưa đọc Lê-nin). Lúc thì cho rằng các nhà chuyên môn không phải xuất hiện ở tầng lớp cơ bản, công hay nông, thì không có đảm bảo vì thái độ lừng chừng, lập trường lỏng lẻo, dù là 10 năm nay họ đã bước chân vào đường cách mạng và chứng minh nhiệt tình của mình đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, kiến thiết quốc gia.
Theo ý tôi, đây là một vấn đề then chốt. Các anh em trí thức kháng chiến thường phàn nàn rằng Đảng Lao động thiếu tín nhiệm họ. Họ đau khổ mà nhận thấy rằng mặc dầu họ đã trải qua bao nhiêu thử thách, chịu đựng bao nhiêu hi sinh, trải qua bao nhiêu gian nguy, Đảng vẫn chưa tin ở họ. Nào họ có yêu sách gì quá đáng đâu? Họ có đòi làm Bộ trưởng hay Đại sứ đâu? Không. Đại đa số các anh em trí thức nói chung, không mơ ước các cương vị, công tác lộng lẫy đâu, họ vui lòng nhường chỗ cho các nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ thiết tha đòi hỏi được mang khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết tha mong muốn được bảo toàn danh dự trí thức của họ và cái tự do tư tưởng mà họ quan niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người trí thức mà thôi. Họ đã từng nghe thấy Đảng tuyên bố: Người trí thức là vốn quí của dân tộc. Nhưng họ cảm thấy vốn ấy quí quá đến nỗi phải cất nó đi thật kỹ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một hoàng hôn trường cửu. Nếu có ai cho rằng tôi nói không đúng, tôi cứ đề nghị người ấy quay mặt nhìn chung quanh, ở các cương vị công tác trong chính thể của ta. Có một chỗ nào mà người trí thức ngoài Đảng nắm được thực quyền không ? tác dụng “hiếu hỉ” hay “cười gật” thì có, mà lại có nhiều. Nhưng ngay ở các cương vị ấy, ngoài vai trò hiếu hỉ, cười gật, người trí thức có một trách nhiệm gì không, có quyền nói gì làm gì không, quần chúng đã biết và miễn tôi giả nhời.
Chính trị chèn ép chuyên môn như thế nào? xua đuổi người trí thức ra ngoài con đường cách mạng ra sao, lịch sử kháng chiến đã cho ta kinh nghiệm đau đớn. Năm 1949, phong trào tư pháp liên khu III tan vỡ vì chính quyền quan niệm tư pháp phải thuộc sự điều khiển của mình. Năm 1951, phong trào quân y, dân y liên khu IV sụp đổ vì các chính trị viên đưa vào các bệnh viện đã đàn áp chuyên môn, thúc đẩy các bác sĩ có công với cách mạng, với kháng chiến, phải gạt nước mắt mà rời bỏ kháng chiến. Đó không phải là chủ trương của Đảng Lao Động. Nhưng có một điều làm ta suy nghĩ: sao mãi bây giờ sau 10 năm Đảng mới nghiên cứu một chính sách cho trí thức ? Điều ấy chứng tỏ rằng từ khi cách mạng thành công, ta chưa đánh đúng giá người trí thức, chưa đặt vấn đề trí thức. Do đó, làm thế nào khai thác được tất cả khả năng của người trí thức để họ mang chuyên môn ra phục vụ nhân dân ?
Trên đây, tôi nói về người trí thức từ chiến khu trở về. Đối với người trí thức vẫn ở trong Thủ đô, ta thấy sự thiếu tín nhiệm ấy lại còn trầm trọng hơn nữa. Bao lần ta nghe tiếng chua cay của các anh em ấy phàn nàn bị coi như là kẻ thù, mặc dầu các anh em vì yêu nước đã khắc phục mọi lo sợ do tuyên truyền của địch gây ra và ở lại với chúng ta. Ta để cho cán bộ hộ khẩu xâm phạm đến danh dự của các anh em, ta không tìm cách nào sửa chữa sai lầm ta đã phạm đối với anh em. Ở các công sở tình trạng chèn ép của chính trị đối với chuyên môn đã đưa đến cái danh từ bi đát làm cho ta đau lòng: “họ Lưu, họ Kháng”. Không đoàn kết được các anh em, ta lại còn có thái độ úp mở, nhùng nhằng (ta tưởng như vậy là thượng sách), thậm chí ta lại còn nghi ngờ các anh em. Ta không hiểu rằng làm như vậy, ta bất công với các anh em, ta không tôn trọng lời đã hứa qua chính sách tiếp quản và cương lĩnh Mặt Trận, ta đẩy các anh em xa rời ta, ta vô tình ném xuống bể tiêu cực cái vốn chuyên môn của các anh em trí thức trong Thủ đô.
Đó là những nguyên nhân trực tiếp. Đào sâu hơn nữa, ta thấy rằng sở dĩ có những hiện tượng như ta vừa phân tách trên đây, chẳng qua chỉ vì sự lãnh đạo của ta thiếu dân chủ, xa lìa quần chúng.
Chính thể ta thiếu dân chủ như thế nào, ta đã từng biết. Vai trò của các vị Bộ và Thứ trưởng ngoài Đảng như thế nào, các vị đó làm được những gì trong Hội đồng chính phủ, trong các ngành chuyên môn mà các vị ấy phụ trách, ta không nên đi quá sâu. Ta chỉ cần liếc mắt nhìn qua công việc làm trong mỗi Bộ, ta chỉ cần nghe tiếng than phiền của các cán bộ, công chức làm việc trong các Bộ là ta hiểu. Ta cũng biết rằng chủ trương của Đảng có lẽ không phải như vậy đâu, nhưng trong thực tế công tác, mỗi anh em ta tiếp xúc với các vị Bộ hay Thứ trưởng ngoài Đảng, đều nhận thấy rằng quyền hành của các vị ấy hình như không phải là quan trọng cho lắm. Nhận định như vậy có lẽ ta lầm đấy. Nhất định ta lầm. Nhưng dù sao có “dư luận” không ai chối cãi được. Do đó, nếu chủ trương của Đảng không phải như vậy thì ít ra Đảng cũng mang trách nhiệm không làm thế nào để tiêu tan cái dư luận tai hại mà chúng ta thấy tồn tại từ thời kỳ kháng chiến đến giờ. Nhưng cũng có điều chắc chắn không ai chối cãi được, là các vị Bộ hay Thứ trưởng không có trách nhiệm gì trước Quốc hội, trước nhân dân, chỉ có trách nhiệm trước Chính phủ mà thôi. Chưa bao giờ ta thấy vị Bộ truởng nào bị lật đổ cả. Phải đợi đến các sai lầm đặc biệt nghiêm trọng trong Cải cách mới thấy hai vị Thứ trưởng phải rút lui khỏi Hội đồng Chính phủ. Các hiện tượng ấy chứng tỏ rằng Chính phủ ta chưa thực hiện được dân chủtrong khi lập Hội đồng Chính phủ, vì các vị Bộ hay Thứ trưởng đều được cử hay bị truất, ngoài sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp (qua Quốc hội) của quần chúng.
Tình trạng của Quốc hội lại rõ hơn nữa. Mười năm Quốc hội đã thành lập. Các vị đại biểu Quốc hội còn phản ảnh được ý nguyện của quần chúng không, quần chúng có tín nhiệm ở Quốc hội nữa không, đó là một vấn đề. Nhưng dù vấn đề ấy ta giải quyết như thế nào đi nữa, có một điều chắc chắn là một Quốc hội già 10 năm rồi mà vẫn tồn tại ngoài sự can thiệp của quần chúng, sự lựa chọn của quần chúng, chứng minh rằng quần chúng 10 năm nay đã bị truất quyền cử đại biểu của mình rồi. Dĩ nhiên trong thời kỳ kháng chiến, bầu lại Quốc hội là một điều không làm được. Và hiện thời, Nam-Bắc bị tạm chia cắt, do đó sự bầu lại toàn thể Quốc hội cũng là khó khăn. Nhưng dù sao riêng ở các miền giải phóng này, nếu ta chú ý đến quyền người dân cử đại biểu của họ thì nhất định ta phải cho phép người dân bỏ phiếu rồi. Từ khi hòa bình trở lại, 2 năm đã qua, mãi bây giờ trước phong trào quần chúng đòi thực hiện dân chủ, ta mới nghĩ đến quyền bỏ phiếu của người dân và bổ xung Quốc hội.
Nào có thế thôi đâu? Ngay cái Quốc hội ta đang có hiện thời, ta có thực hiện dân chủ với nó không? Chắc chắn là không. Thỉnh thoảng ta mới họp Quốc hội, và trong các buổi họp đó ta chỉ thấy Chính phủ đưa ra các báo cáo để Quốc hội nghiên cứu, xây dựng, hay các chính sách để Quốc hội tán thành và bổ khuyết. Quyền lập pháp của Quốc hội ở đâu? Quyền đề ra đường lối, chủ trương trong nội trị, ngoại giao, quyền nêu trách nhiệm của Chính phủ và các Bộ, quyền lựa chọn nhân viên trong Hội đồng Chính phủ, bấy nhiêu quyền, Quốc hội có được hưởng dụng không? Dư luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính sách mà thôi. Còn như các sắc lệnh hay đạo luật thì thường thường, quyền thông qua ấy chỉ thuộc ban Thường trực của Quốc hội. Nếu Quốc hội là tổ chức cao nhất của quần chúng, đại diện cho quần chúng, thì ta phải khách quan nhận thấy rằng, với vai trò vô cùng yếu ớt của Quốc hội hiện thời, quyền dân chủ của quần chúng không được thực hiện.
Nói đến Mặt trận thì tình hình cũng tương tự. Mặt trận hiện thời là tổ chức quần chúng có lẽ sát tình hình quần chúng nhiều nhất. Nhưng ta có để nó đóng vai trò của nó không ? Không. Tác dụng của nó là động viên quần chúng để tán thành, ủng hộ và thi hành các chính sách. Đứng về phương diện này, nó làm tròn nhiệm vụ của nó. Nó xứng đáng với tín nhiệm của Đảng và Chính phủ. Nhưng hoạt động của nó như thế chỉ có một chiều thôi. Ta chưa khai thác các khả năng của nó. Ta chưa nhận thấy bản chất của nó. Nó có thể là liên lạc “hai chiều” giữa quần chúng và Đảng, Chính phủ. Một mặt như nó thường làm, nó động viên quần chúng để thực hiện các chủ trương của Đảng và Chính phủ. Nhưng mặt khác, nó có thể là cơ quan phản ảnh lên Đảng và Chính phủ các ý kiến, thắc mắc, nguyện vọng của quần chúng, góp phần xây dựng các chính sách, nói lên tiếng nói của quần chúng, cung cấp tài liệu nguồn gốc ở quần chúng, tích cực giúp đỡ cấp lãnh đạo tránh khỏi chủ quan, thắt chặt liên lạc giữa cấp lãnh đạo và quần chúng. Nhưng muốn để cho nó đóng vai trò ấy, ta phải “dân chủ” đối với nó, nghĩa là phát động tự do tư tưởng của nó, để nó mạnh dạn nói lên ý kiến của quần chúng, dù là các ý kiến trái ngược với nhận định của cấp lãnh đạo. Nhưng từ trước tới nay, ta không làm như vậy. Ta thấy khó chịu khi nó thỏ thẻ —chỉ thỏ thẻ thôi— những lời làm ta một phút chốc tỉnh giấc mộng chủ quan mà ta trong cấp lãnh đạo đang say sưa. Vì vậy ta chỉ thường cho phép nó, chỉ khuyến khích nó phụ họa ta, tán đồng ta với thái độ của đứa con khen hay khi mẹ nó hát. Tóm lại, ta không dân chủ với nó. Do đó, ta hạn chế khả năng của nó, nó không giúp ích gì cho cấp lãnh đạo.
Thiếu dân chủ là gì ? Là xa rời quần chúng, là giam hãm mình vào ngục thất của chủ quan. Tại sao một chính thể cách mạng lại có thể phạm sai lầm nghiêm trọng như vậy được ?
Trước đây, ta không trả lời được. Những người kính yêu cách mạng rất ngạc nhiên khi thấy có kẻ đi tìm tự do, rời bỏ hàng ngũ cách mạng để lén sang phía tư bản. Ngay trong thủ đô ta hiện thời, qua Đại hội lần thứ 3 của Mặt trận Thành, ta thấy phản ảnh ý muốn của bao nhiêu đồng bào muốn đi Nam. Ta nghĩ đến các đồng bào, trong thời kỳ kháng chiến, gạt nước mắt mà trở về Hà-nội. Nếu cách mạng mang lại cho họ ánh sáng và hạnh phúc, sao lại có người lo ngại trước cách mạng, đau đớn vì cách mạng. Các người ấy không phải thuộc thành phần kẻ thù của cách mạng, trái lại thuộc thành phần cơ bản trong nhân dân, như nông dân, công nhân. Thế thì đâu là chân lý? Đó là một vấn đề mà trước đây ta chỉ đặt thôi và không giải quyết được.
Bây giờ sau Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-sô, sau các cuộc bạo động ở Berlin, Poznan, bên Tiệp, bên Hung, ta hiểu rõ vấn đề, ta giải quyết được nó. Chung quy, mặc dầu cách mạng là tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho dân tộc, sở dĩ vẫn có người xa lánh cách mạng, chẳng qua là vì chính thể cách mạng mắc trầm trọng bệnh xa lìa quần chúng, thiếu dân chủ, do đó đi càng ngày càng sâu vào tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, duy trì một thái độ lãnh đạo hẹp hòi, độc đoán, có khi độc tài. Thái độ một chiều không muốn, không cho phép ai nói cái gì trái ngược ít nhiều với ý kiến nhận định, thành kiến của mình. Mình tự phụ, tự hào mình có độc quyền tìm thấy và gìn giữ chân lý. Đó là tật tự cao tự đại của nhà cách mạng. Ta bay bổng lên trời xanh của ảo tưởng, ta chỉ tin ở ta. Trong tư tưởng, ta không khinh quần chúng, nhưng trong hành động, quả thật con mắt khách quan nhận thấy ta bất chấp quần chúng. Thậm chí, khi ta nghe thấy một tiếng nào từ quần chúng nói lên rằng ta nhầm, ta làm như thế này mới phải, lập tức ta thét ngay đó là tiếng của địch. Sở dĩ quan điểm bạn thù của ta mơ hồ, và đâu ta cũng trông thấy địch, chẳng qua là vì ta quá tự phụ, ta sùng bái ta quá đáng mà thôi. Bây giờ ta biết rõ là nếu bệnh ấy phổ biến trong hàng ngũ cách mạng hiện thời thì trách nhiệm chính là Stalin phải chịu. Vì tự cao, tự đại, tự phụ, tự mãn, Stalin không cho phép ai dân chủ với mình, đâu cũng trông thấy địch. Kết quả thế nào ta đã biết: khẩu hiệu nêu lên, thét lên, gào lên là: đề cao cảnh giác. Và lợi dụng tình thế ấy, ta biết Béria đã làm những gì, phạm tội ác như thế nào.
Nếu không có quyết nghị lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-sô, nếu không có những sai lầm cực kỳ tai hại trong Cải cách, ta chưa mở mắt được, ta sẽ còn thấy bao nhiêu máu oan chảy thành suối thành sông, bao nhiêu người kính yêu cách mạng mà vẫn đau sót rời bỏ cách mạng. Tuy ta phải trả một giá quá cao, nhưng bây giờ ta biết rõ nguyên do của các đau khổ của ta: ta thiếu dân chủ.
[sửa] III. Phương hướng sửa chữa các sai lầm
Qua lịch sử tranh đấu của quần chúng hai nghìn năm nay, ta thấy cái gì mà nhân bản của loài người đòi hỏi thiết tha nhất, đó là một đời sống vật chất tương đối đầy đủ êm ấm, đó là một đời sống tinh thần tương đối ổn định, có đảm bảo và tự do. Hạnh phúc của loài người xây dựng trên cơ sở dân sinh và dân quyền. Tôi muốn nhấn mạnh ở đây về vấn đề dân quyền. Ta được biết từ hai thế kỷ nay chủ yếu trong vấn đề dân quyền là vấn đề dân chủ, nghĩa là quyền của người dân làm chủ trên đất nước, đồng thời là quyền của con người được sống theo các nhu cầu thiết yếu và chính đáng của nhân bản. Từ cuộc Cách mạng tư sản Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18, Cách mạng tư sản Pháp 1789, tới cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa của Nga, quần chúng nổi giậy, mang xương máu để dành kỳ được chế độ dân chủ. Sau cuộc đại chiến lần thứ hai, Hiến chương Liên hiệp quốc đúc kết những thành quả của các phong trào lịch sử tranh đấu cho dân chủ và đặt các nước văn minh trước trách nhiệm của họ để thực hiện và đảm bảo các nguyên tắc dân chủ. Đối với các nước tư bản ta không ngạc nhiên thấy chế độ dân chủ thực hiện với những thiếu sót quan trọng. Nhưng ta có quyền ngạc nhiên khi ta thấy các thiếu sót ấy cũng xuất hiện trong các nước đã hoàn thành cuộc Cách mạng dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa. Đại hội lần thứ 6 của Hội Quốc tế các luật gia dân chủ họp trong tháng 5 vừa rồi tại Bruxelles đã lấy làm tiếc mà nhận thấy rằng trong tất cả các nước, dù tư bản hay xã hội chủ nghĩa, mặc dầu các Hiến pháp, các bộ luật tuyên bố trịnh trọng, tôn trọng thực hiện, đảm bảo thực hiện các nguyên tắc dân chủ, tuy nhiên các nguyên tắc này vẫn bị dày xéo. Vì vậy trong tất cả các nước, quần chúng tranh đấu kịch liệt.
Ở nước ta, trong bản Tuyên ngôn độc lập, trong Hiến pháp cũng như trong các sắc lệnh, đạo luật, nguyên tắc dân chủ đã được ban bố. Nhưng qua phong trào phát huy dân chủ mà Chính phủ chủ trương, qua đại hội nhân dân thủ đô lần thứ 3, các Đại hội Mặt trận Trung ương, Mặt trận Thành, qua thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 của Trung ương Đảng Lao động, của Chính phủ v.v., nhân dân nhận thấy, và Đảng cũng như Chính phủ xác nhận rằng ta thiếu sót về dân chủ khá nhiều. Vì các thiếu sót ấy, ta phạm các sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách ruộng đất như tôi đã trình bày trên đây. Nguyên nhân sâu sắc của các sai lầm ấy, ta có thể quy kết được. Sở dĩ đời sống tinh thần của ta không được ổn định, lúc nào ta cũng nơm nớp lo sợ các hành động “lộng quyền” của nhà đương cục, là vì ta thiếu một chế độ pháp trị phân minh, không đề ra nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người, đồng thời cả của cấp lãnh đạo nữa. Sở dĩ cấp lãnh đạo có thể phạm được các sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách ruộng đất, tổn thất cho xương máu, mồ hôi nước mắt của đồng bào, cho uy tín của Đảng và Chính phủ, là vì người dân không có quyền, không có phương tiện nói lên ý kiến của mình, tham gia xây dựng các chính sách của Chính phủ.
Do đó, phương hướng sửa chữa các sai lầm là một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự.
Một chế độ pháp trị chân chính — Ở đây, chưa phải lúc và chỗ để tôi trình bày ý kiến về vấn đề pháp trị. Ta sẽ có dịp khác. Ở đây, tôi chỉ muốn trình các quí vị một nhận xét.
Đảng Lao động và chính phủ có nhận thấy cần thiết, trong chính sách sửa chữa các sai lầm trong Cải cách, phải “tăng cường chế độ pháp trị” của ta. Tôi e rằng trong tư tưởũng lãnh đạo, sự nhận thức về vấn đề pháp trị chưa được rõ và đầy đủ. Chính trị vẫn coi pháp luật như một “bà con nghèo”. Chữ “tăng cường” là một chứng minh. Tuy rằng trong nước ta có một Bộ Tư pháp, có các toà án, có luật lệ, nhưng chế độ pháp trị hầu như không có. Đó là một điều tôi sẽ nghiên cứu sâu sắc hơn khi nào tôi trìng bày ý kiến về chế độ pháp trị, một chế độ pháp trị chân chính. Theo ý tôi, thì vấn đề không phải là tăng cường mà là xây dựng.
Một chứng minh khác trong chính sách Sửa sai trong Cải cách này, tôi vẫn thấy chính trị lấn áp pháp lý. Trước hết bức thư của ông Hồ Viết Thắng tự phê bình và xin rút lui khỏi Mặt trận Trung ương chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi. Trong cuộc mạn đàm với các vị đại biểu đến họp hội nghị này, tôi nhận thấy không ai “thông” về ý kiến và biện pháp ông Hồ Viết Thắng trình bày cả. Riêng về phần tôi là một nhà luật học, tôi chưa thể nào nhận định được trách nhiệm của ông Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy rất lớn, có thể rất nhỏ. Đứng trên tinh thần pháp lý, sự nhận tội lỗi của một người không đủ để qui định trách nhiệm của người ấy. Trong Cải cách, khi những đảng viên ưu tú bị đoàn Cải cách gán cho là phản động, ra trước nhân dân, có người cũng nhận tội trong khi biết là mình oan. Ta nên rút kinh nghiệm vừa qua, sửa sai không phải là phạm các sai lầm khác. Do đó, đứng trên một lập trường pháp trị chân chính, tôi đề nghị phải lập một ủy ban điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội, Mặt trận, Đảng Lao động với sự cộng tác của các vị thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để lập một hồ sơ theo phương pháp pháp lý đã nhận định, trên quá trình đi từ lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu. Sau khi kết thúc cuộc điều tra, ủy ban ấy sẽ phân tách trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý. Ai chịu trách nhiệm chính trị sẽ trả lời trước Quốc hội biến thành Toà án tối cao. Ai chịu trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các tòa án tư pháp. Dưới con mắt của quần chúng theo dõi xây dựng cuộc điều tra và xét xử, công lý phát huy, không còn ai thắc mắc nữa.
Có người hỏi làm thế để làm gì ? Tôi xin phép trả lời. Làm thế để rút kinh nghiệm. Tôi cảm thấy ngay hiện thời ta chưa rút được kinh nghiệm đâu. Chính trị không những lãnh đạo pháp lý —đó là đúng— nhưng vẫn lấn át pháp lý, thay thế cho pháp lý, như trong trường hợp ông Hồ Viết Thắng, như thế là ta vẫn mở cửa cho các sai lầm mới còn nguy hại hơn nữa. Không những thế, ta biết rằng nhu cầu công lý thuộc nhân bản con người văn minh. Từ người bị xử trí oan cho đến các người chỉ chịu thiệt gián tiếp vì các sai lầm, có thể nói được rằng toàn dân đợi chờ công lý. Một biện pháp chính trị xuề xoà không thỏa mãn được ai. Bằng chứng ở nông thôn, ta được biết tình hình “căng thẳng”. Phong trào trả thù, tự xử diễn ra khắp mọi nơi, kéo chúng ta trở về quá khứ của lịch sử. Còn như các đảng viên bị xử trí sai, tâm hồn các anh em như thế nào, ta chỉ cần đọc lại báo nhân Dân. Tuy rằng các anh em kết thúc các bài tường thuật lại đau khổ của mình bằng những lời phấn khởi, nhưng các lời này không làm ta quên được các lời phẫn uất, chua xót, cay đắng mà các anh em nói lại với ta từ đầu bài. Nhưng bi đát hơn hết là các chiếc khăn trắng chít trên đầu họ hàng thân thích của những anh em bị xử tử, những bàn thờ vẫn dựng trong nhà, các thổn thức phá vỡ im lặng của các đêm hiu quạnh, các ngày cúng giỗ nhắc lại hàng năm bi kịch thê thảm đã diễn ra trong gia đình vì cuộc Cải cách. Nhân dân đòi hỏi các người có công được thưởng và các người có tội phải đền tội. Trách nhiệm của tất cả mọi người từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, phải được qui định rõ ràng, dứt khoát. Như thế mới yên được lòng dân, như thế mới thu phục được nhân tâm. Kinh nghiệm lịch sử dạy ta điều ấy. Trong chính sách sửa chữa sai lầm, ta không thể quên được bài học lịch sử. Quần chúng im lặng đợi chờ công lý.
Chúng ta thiết tha mong ước ở chính trị một nhận định đúng về vai trò của pháp luật phục vụ cách mạng. Kinh nghiệm đau đớn vừa qua bó buộc ta phải xây dựng lại quan điểm “địch” trên cơ sở pháp lý và pháp trị. Các sai lầm nghiêm trọng ta đã phạm bắt nguồn ở một quan điểm chính trị về địch. Quan điểm ấy linh động quá, “biện chứng” quá, nên ta không biết phân tách địch và ta, do đó ta đánh cả ta nữa. Muốn tránh các sai lầm hôm qua đừng tái diễn ngày mai, ta cần xác định theo hình luật thế nào là địch. Lúc đó ta mới đánh đúng địch, và có đánh đúng địch ta mới củng cố được ta, ổn định được nhân tâm, duy trì lại trật tự và an ninh ở thôn quê, kiến thiết lại đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân ở thôn quê cũng như ở thành thị, đảm bảo cho quần chúng một đời sống tự do, thoát khỏi mọi sự đe dọa của “lộng quyền”, bênh vực các quyền căn bản và thiết yếu của con người.
Tóm lại, nếu chính trị giác ngộ, vui lòng tôn trọng pháp ly, thiết lập một chế độ pháp trị trong đó chính trị vẫn lãnh đạo pháp lý, nhưng đồng thời nêu thật cao gương phục tùng pháp lý và pháp trị thì nhất định chính trị khôi phục đuợc uy tín và được quần chúng nhiệt liệt ủng hộ.
Một chế độ thực sự dân chủ — Thế nào là một chế độ thực sự dân chủ? Đó là một chế độ trong đó người dân được làm chủ trên đất nước không những trong hiến pháp, mà cả trong thực tế nữa. Đây không phải là lúc, là chỗ, mà ta đi sâu vào vấn đề. Ta chỉ cần nhận thấy rằng trong giai đoạn hiện thời, quần chúng có đòi hỏi cái gì quá đáng đâu, chỉ yêu cầu có một điều thôi, là được đàm thoại với cấp lãnh đạo, được đề đạt lên cấp lãnh đạo, ý kiến về các chính sách do cấp lãnh đạo xây dựng. Các vị lãnh tụ đã bao lần khen dân ta tốt. Mà dân ta tốt thật. Bằng chứng là điều tôi vừa nhắc lại đây. Trong khi quần chúng có quyền đòi hỏi ở một chính thể cách mạng rất nhiều, nhân dân ta chỉ có một yêu cầu mà ai cũng phải nhận là chính đáng. Tại sao nhân dân chỉ có cái yêu cầu nhũn nhặn ấy mà thôi? Là vì nhân dân thông cảm với cấp lãnh đạo phải đương đầu với bao khó khăn. Nhưng nếu nhân dân chỉ đề ra có một yêu cầu, yêu cầu ấy thiết yếu. Tôi tin rằng cấp lãnh đạo cũng nhận thấy như vậy. Tôi không quên lời của ông Trường Chinh đọc bản tự phê của Đảng Lao động tại Hội nghị này. Ta nghe thấy cấp lãnh đạo thú nhận trước Hội nghị rằng Trung ương Đảng đã phạm sai lầm là xa quần chúng, chỉ tiếp xúc với quần chúng qua báo cáo của các cán bộ đảng viên mà thôi. Ta phải nhận định rằng đây là một sai lầm nghiêm trọng. Do đó, cuộc Cải cách ruộng đất của ta đã gặp các thất bại cay đắng. Trái với lời ta thường nói, ta đã thiếu dân chủ với nhân dân.
Nhân dân nhất định không để tình trạng tai hại ấy kéo dài nữa. Tôi xin phép Hội nghị góp một số ý kiến để chấm dứt tình trạng đó. Tôi không đặt vấn đề dân chủ nói chung. Tôi chỉ chú ý đến yêu cầu thiết tha nhất hiện thời của quần chúng là được phản ảnh lên ý nguyện của mình. Theo ý tôi, để thực hiện và đảm bảo yêu cầu vô cùng chính đáng ấy, chỉ cần ba giải pháp.
1. Một chế độ báo cáo của cán bộ. Đảng tín nhiệm ở cán bộ. Đúng! không tài nào khác được. Vậy phải đặt các cán bộ có nhiệm vụ báo cáo trước trách nhiệm của họ. Một báo cáo không phản ảnh trung thành sự thực với các khía cạnh của nó, với các ưu và khuyết điểm của nó, rất tai hại. Cấp lãnh đạo cần đề cao cảnh giác với các con số thống kê, các động cơ bất chính của cán bộ muốn thi đua thành tích, vưà mị dưới, vừa lừa trên, do đó đưa ra một hình ảnh quá hẹp của thực tế. Ta phải tiến tới giải pháp nhận định rằng người nào hữu ý xuyên tạc sự thật vì động cơ bất chính, có thể bị truy tố về tội giả mạo được.
2. Một chế độ cho các đoàn thể nhân dân được quyền mạnh dạn nói lên ý kiến của quần chúng mà họ tập hợp. Từ trước tới nay, ta có thể ví Đảng Lao động như một cây rất to, lá ruờm ra che hết ánh sáng của mặt trời, khiến ngay một ngọn cỏ cũng không mọc dưới chân nó được. Vì vậy, Quốc hội cũng như Mặt trận không thể đóng được vai trò của mình. Ở đây, tôi chỉ xin phép nói về Mặt trận của ta thôi. Các vị đã thấy rằng từ khi thành lập Mặt trận Liên Việt cho đến Mặt trận Tổ quốc, chúng ta chỉ có nhiệm vụ động viên quần chúng thi hành chính sách mà thôi. Đó là một nhiệm vụ. Nhưng dù sao chỉ có một chiều. Ta là giây liên lạc giữa các cấp lãnh đạo và quần chúng. Nếu ngược lại, ta có quyền liên lạc giữa quần chúng và cấp lãnh đạo, nghĩa là phản ảnh lên Đảng và Chính phủ ý kiến thắc mắc, nguyện vọng của quần chúng, công tác của ta thế nào cũng tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn. Ta gắn liền lãnh đạo và quần chúng, do đó lãnh đạo sát hợp với thực tế hơn. Tôi xin phép đặt mỗi vị ủy viên trước trách nhiệm của mình. Chúng ta ủng hộ Chính phủ, nhưng chúng ta cũng là đại biểu của nhân dân. Công tác của chúng ta có hai mặt, chúng ta không thể chỉ lệch về một bên được. Quần chúng không cho phép chúng ta làm như vậy, muốn theo rõi công việc ta làm vì chúng ta làm đại biểu của quần chúng, được quần chúng tín nhiệm. Quần chúng giao quyền cho chúng ta, chúng ta phải xứng đáng với sự ủy quyền ấy. ta xử dụng quyền ấy thế nào, quần chúng đòi kiểm soát ta.
Để đạt mục đích này, tôi xin phép đề nghị: một là mỗi ủy viên phải có nhiệm vụ phản ánh lên Mặt trận ý kiến của quần chúng. Mặt trận phải có nhiệm vụ đề đạt lên cấp lãnh đạo những phản ảnh của các ủy viên và báo cho các vị ấy thái độ của cấp lãnh đạo giải quyết vấn đề ra sao, xử dụng các phản ảnh ấy như thế nào. khi Mặt trận họp hội nghị, phải cho phép quần chúng đến bàng thính: để quần chúng kiểm soát công việc của Mặt trận làm và thái độ của các ủy viên. Dĩ nhiên các người bàng thính ấy không có quyền tham gia thảo luận, chỉ được nhập hội trường cho tới khi hết số ghế dành cho quần chúng, và phải tôn trọng kỷ luật của hội nghị. Ngoài ra, báo chí, đặc biệt báo chí của Mặt trận như tờ Cứu Quốc, phải phản ảnh trung thành nội dung của các cuộc thảo luận và đăng các tham luận của các vị ủy viên.
3. Một chế độ tự do ngôn luận, xuất bản báo chí — Ta phải đề phòng trường hợp các cán bộ không báo cáo, các ủy viên Mặt trận không phản ảnh ý kiến của quần chúng. Do đó, ta thấy cần thiết phải cho phép quần chúng nói lên tiếng nói của mình qua báo chí. Có người lo ngại rằng tự do ngôn luận này mà ai cũng thấy cần thiết có thể bị xử dụng một cách bừa bãi. Về điều này ta phải suy nghĩ. Mối lo ngại trên đây xuất phát từ động cơ nào? Nếu là động cơ tốt —nghĩa là do một nhiệt tình đối với cách mạng gây ra— ta hoan nghênh. Nhưng ta cũng sẽ trả lời rằng trong một chính thể dân chủ muốn xử dụng tự do nào, dĩ nhiên phải nêu trách nhiệm của người xử dụng tự do ấy trước pháp luật. Nếu xử dụng với tinh thần trách nhiệm hợp pháp, ta không có quyền kêu ca gì, trái lại, ta hoan nghênh. Nếu lạm dụng một cách vô trách nhiệm, ta đã có tòa án để nghiêm trị. Vậy ta không lo ngại. Nhưng nếu mối lo ngại xuất phát từ một động cơ bất chính, nhắm mục đích thủ tiêu các tự do dân chủ, thì tôi chỉ cần khuyên nhủ người lo ngại như vậy nên đọc lại lịch sử các phong trào cách mạng trong hơn một thế kỷ nay. Họ sẽ nhận thấy rằng chưa bao giờ, chưa ai có thể ngăn cản được một phong trào quần chúng tranh đấu đòi các tự do dân chủ.
Không những ta công nhận các tự do dân chủ, ta lại còn cung cấp phương tiện để thực hiện các tự do ấy. Thí dụ tự do ngôn luận. Ta có các báo của Chính phủ, của Đảng, của Mặt trận, ta lại có các báo của tư nhân, ta giúp đỡ cho các báo ấy giấy và mực in đầy đủ, ta lại còn quảng cáo cho các báo ấy là đàng khác nữa. Các cơ quan tuyên truyền, báo chí của ta không bao giờ tìm khó dễ cho các báo ấy, và khi nào các báo đó được hàng vạn độc giả hoan nghênh, ta rất lấy làm sung sướng vì trong thâm tâm ta, ta là những người dân chủ.
Các biện pháp tôi đề nghị trên đây đều nhằm mục đích cống hiến các cấp lãnh đạo một nhận thức đúng và sát thực tế mà cấp lãnh đạo không có điều kiện biết đến một cách trực tiếp. Sát với thực tế của quần chúng, cấp lãnh đạo thông cảm với quần chúng, đi đúng đường lối của quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, ủng hộ, mến yêu.
Thưa các quý vị,
Tôi nói đã quá lâu, nhưng tôi tin các vị cũng tha thứ cho, vì biết rằng tôi là một người thiết tha đến sự nghiệp của cách mạng và tiền đồ của dân tộc. Các ý kiến của tôi, dù sai hay đúng, tôi cứ thành khẩn đề đạt lên các vị, gọi là để góp phần vào hội nghị, một phần nhỏ mọn nhưng chan chứa một niềm hi vọng và tin tưởng vô biên ở tương lai của đất nước.
Luật sư NGUYỄN MẠNH TƯỜNG
Hà-nội, ngày 30-10-1956
[sửa] Tham khảo